Đang online: 13
Hôm nay: 538
Trong tuần: 5702
Trong tháng: 20322
Tổng truy cập: 10596536
  • Mô hình trồng dâu nuôi tằm - Sinh kế hiệu quả từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững
    Mô hình trồng dâu nuôi tằm - Sinh kế hiệu quả từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững
    27/01/2026 10:52
    Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, trong những năm qua, các cấp, các ngành đã tập trung triển khai nhiều mô hình hỗ trợ sinh kế theo hướng thiết thực, phù hợp với điều kiện sản xuất của người dân, đặc biệt là các hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn. Thay vì hỗ trợ dàn trải, chương trình chú trọng hỗ trợ có trọng tâm, tạo “đòn bẩy” ban đầu để người dân phát huy nội lực, chủ động tổ chức sản xuất và từng bước nâng cao thu nhập. Trong khuôn khổ đó, mô hình trồng dâu nuôi tằm lấy kén tại xã Quảng Sơn là một trong những mô hình sinh kế được lựa chọn triển khai, bước đầu cho thấy tính phù hợp với điều kiện sản xuất thực tiễn của địa phương, mang lại hiệu quả thiết thực và đáp ứng đúng nhu cầu của các hộ tham gia. Thông qua Chương trình, các hộ được hỗ trợ một phần dụng cụ nuôi tằm như nong nuôi và né làm kén, qua đó góp phần giảm chi phí đầu tư ban đầu, tạo động lực để người dân mạnh dạn tiếp cận mô hình và tổ chức sản xuất theo hướng bài bản, tuân thủ quy trình kỹ thuật. Trên cơ sở hỗ trợ ban đầu đó, các hộ chủ động bố trí đất trồng dâu, đầu tư con giống và chuẩn bị các điều kiện cần thiết khác, từng bước hình thành sinh kế ổn định, lâu dài. Sự lựa chọn mô hình trồng dâu nuôi tằm tại xã Quảng Sơn, tỉnh Lâm Đồng xuất phát từ điều kiện sản xuất thực tế của địa phương. Quảng Sơn là xã thuần nông, đời sống người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp trong đó vẫn còn một bộ phận hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo có diện tích đất canh tác hạn chế, sinh kế chủ yếu dựa vào lao động làm thuê, canh tác cà phê quy mô nhỏ với năng suất thấp hoặc một số cây trồng truyền thống khác nhưng hiệu quả kinh tế chưa cao, thu nhập còn bấp bênh. Trong bối cảnh quỹ đất sản xuất không lớn, nguồn vốn đầu tư hạn chế, việc lựa chọn mô hình sinh kế có khả năng quay vòng vốn nhanh, phù hợp với điều kiện của nông hộ là yêu cầu đặt ra đối với địa phương. Mô hình trồng dâu nuôi tằm tại xã Quảng Sơn được triển khai với quy mô 10 hộ tham gia. Diện tích trồng dâu của các hộ không lớn, hộ có diện tích nhiều nhất khoảng 0,5 ha. Các hộ tổ chức nuôi tằm theo hình thức gối vụ liên tục quanh năm mỗi lứa nuôi kéo dài khoảng 20 ngày. Trung bình mỗi lứa sử dụng từ 01 - 1,5 hộp tằm giống. Nhờ tuân thủ tốt quy trình kỹ thuật chăm sóc, vệ sinh chuồng trại và chủ động phòng trừ dịch bệnh, năng suất kén đạt từ 80 - 120 kg/lứa tùy theo quy mô và điều kiện chăm sóc của từng hộ, đảm bảo sản lượng ổn định qua các lứa nuôi. Bên cạnh việc áp dụng đúng quy trình kỹ thuật, các hộ trong mô hình còn linh hoạt thực hiện hình thức nuôi tằm trên nong kết hợp nuôi nền nhà, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của từng gia đình. Ở giai đoạn tằm nhỏ, tằm được nuôi trên nong đặt trên giàn, thuận tiện cho việc chăm sóc và theo dõi sinh trưởng. Khi tằm bước vào giai đoạn lớn, nhu cầu ăn lá tăng cao, các hộ tận dụng nền nhà được vệ sinh sạch sẽ, rải vôi bột khử trùng để mở rộng không gian nuôi, giúp tằm phát triển đồng đều, hạn chế hiện tượng dập, nóng tằm. Hình thức nuôi kết hợp này có ưu điểm là giảm chi phí đầu tư ban đầu, tận dụng hiệu quả diện tích nhà ở sẵn có nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu kỹ thuật nếu thực hiện tốt khâu vệ sinh, thông thoáng và kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm. Thực tế cho thấy, phương thức nuôi này không làm giảm năng suất kén mà giúp các hộ chủ động điều chỉnh quy mô nuôi theo điều kiện cụ thể của gia đình. Tằm tuổi 3 được nuôi trên nong để chăm sóc và theo dõi sinh trưởng Với giá kén tằm trên thị trường hiện nay dao động từ 200.000 - 230.000 đồng/kg, mỗi lứa nuôi cho doanh thu từ 18 - 27 triệu đồng, bình quân khoảng 23 triệu đồng/lứa. Chi phí sản xuất chủ yếu là tiền mua tằm giống, một số vật tư như vôi, thuốc sát trùng và điện nước, công chăm sóc… tổng chi phí khoảng 5 - 7 triệu đồng/lứa. Sau khi trừ hết mọi chi phí, mỗi lứa nuôi cho lợi nhuận từ 12 - 20 triệu đồng, bình quân khoảng 17 triệu đồng trong vòng 20 ngày. So với các mô hình sản xuất nông nghiệp truyền thống tại địa phương, mô hình trồng dâu nuôi tằm cho hiệu quả kinh tế vượt trội. Nếu cùng trên diện tích vài sào đất, các cây trồng như lúa, bắp hoặc mì thường chỉ mang lại thu nhập vài chục triệu đồng mỗi năm và phụ thuộc nhiều vào thời tiết, thị trường. Trong khi đó, nuôi tằm cho thu nhập ổn định theo từng lứa, quay vòng vốn nhanh và ít rủi ro. Theo chu kỳ sản xuất, mỗi năm người dân nuôi từ 09 - 10 lứa tằm, với quy mô hiện tại, mô hình mang lại lợi nhuận khoảng 150 - 170 triệu đồng/năm/hộ góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho các hộ tham gia. Mô hình được triển khai từ tháng 11/2023 do UBND xã Quảng Sơn triển khai thực hiện và duy trì ổn định cho đến nay, cho thấy tính bền vững và khả năng thích ứng tốt với điều kiện sản xuất tại địa phương. Bên cạnh hiệu quả kinh tế, mô hình còn mang lại ý nghĩa xã hội thiết thực, tạo việc làm thường xuyên tại chỗ, góp phần nâng cao thu nhập cho các hộ nghèo, cận nghèo tham gia mô hình. Quá trình nuôi tằm chủ yếu tận dụng thời gian lao động nhàn rỗi trong gia đình, không đòi hỏi nhiều công lao động nặng nhọc, phù hợp với điều kiện sinh hoạt của nông hộ. Thông qua mô hình, người dân từng bước thay đổi tư duy sản xuất, từ trông chờ hỗ trợ sang chủ động tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế hộ gia đình. Tiêu biểu có hộ ông Lê Sỹ Cảnh, một trong những hộ tham gia mô hình từ những ngày đầu. Sau khi được hỗ trợ nong nuôi và hướng dẫn kỹ thuật, ông đã mạnh dạn đầu tư trồng dâu, tổ chức nuôi tằm đúng quy trình. Qua các lứa nuôi, năng suất kén duy trì ổn định, thu nhập của gia đình ông từng bước tăng lên. Ông Cảnh cho biết, từ khi gắn bó với nghề nuôi tằm, gia đình có nguồn thu thường xuyên theo từng lứa nuôi, chủ động hơn trong chi tiêu sinh hoạt và tái đầu tư sản xuất. Nhờ đó, đời sống kinh tế của gia đình ngày càng ổn định, tạo nền tảng vững chắc để từng bước vươn lên thoát nghèo. Ông Lê Sỹ Cảnh chăm sóc tằm ở giai đoạn sinh trưởng mạnh (tằm tuổi 4) Từ hiệu quả thực tế, mô hình trồng dâu nuôi tằm tại xã Quảng Sơn đang được người dân trong và ngoài xã quan tâm học hỏi. Sự hỗ trợ ban đầu từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo đã tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực, khuyến khích nhiều hộ mạnh dạn tham gia. Qua đó có thể khẳng định, mô hình trồng dâu nuôi tằm là mô hình sinh kế phù hợp với nông hộ có diện tích đất nhỏ, nhu cầu tạo thu nhập quay vòng nhanh, cần tiếp tục được quan tâm, hỗ trợ và nhân rộng trong thời gian tới. Nguyễn Thị Thắm - Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng
  • Đánh thức tiềm năng dược liệu dưới tán rừng Tà Đùng: Mô hình trồng nấm Linh chi đỏ mang lại hiệu quả kinh tế cao
    Đánh thức tiềm năng dược liệu dưới tán rừng Tà Đùng: Mô hình trồng nấm Linh chi đỏ mang lại hiệu quả kinh tế cao
    26/01/2026 11:08
    Vườn Quốc gia Tà Đùng không chỉ là “lá phổi xanh” với hệ sinh thái đa dạng mà còn ẩn chứa kho tàng dược liệu quý giá. Tận dụng lợi thế này, mô hình trồng nấm Linh chi đỏ dưới tán tre tại bon B’Nơr (xã Tà Đùng) đang mở ra hướng đi mới, giúp người dân địa phương phát triển kinh tế bền vững.
  • Nâng cao thu nhập nhờ mạnh dạn chuyển đổi cây trồng, vật nuôi mới ở vùng đặc biệt khó khăn
    Nâng cao thu nhập nhờ mạnh dạn chuyển đổi cây trồng, vật nuôi mới ở vùng đặc biệt khó khăn
    22/01/2026 08:45
    Xã Đam Rông 2, tỉnh Lâm Đồng có diện tích tự nhiên 365 km2, với dân số trên 16.000 người, trong đó gần 70% là đồng bào dân tộc thiểu số. Tỷ lệ hộ nghèo trên 8%; kinh tế của xã chủ yếu là nông nghiệp, với cây trồng chủ lực là cà phê, nhiều diện tích già cỗi, cho năng suất, thu nhập còn thấp. Do đó, việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi là rất cấp thiết. Nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện đời sống người dân và phát triển nông nghiệp bền vững, bà con nông dân ở xã Đam Rông 2 đã mạnh dạn chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi mới mang lại hiệu quả kinh tế cao.
  • Hiệu quả từ liên kết sản xuất nông nghiệp hữu cơ của Hợp tác xã Nông nghiệp Đoàn Kết
    Hiệu quả từ liên kết sản xuất nông nghiệp hữu cơ của Hợp tác xã Nông nghiệp Đoàn Kết
    15/01/2026 14:52
    Hợp tác xã Nông nghiệp Đoàn Kết (HTX) tại thôn 9, xã Đức An, tỉnh Lâm Đồng được thành lập ngày 05/11/2014, ban đầu có 25 thành viên chính thức, do ông Lưu Như Bính, sinh năm 1968 làm Giám đốc. Với diện tích đất sản xuất nông nghiệp ban đầu của HTX là 75 ha, trong đó cà phê có 70 ha, sản lượng khoảng 200 tấn/năm hồ tiêu 05 ha, sản lượng khoảng 20 tấn/năm. Khi mới thành lập đi vào sản xuất, HTX gặp nhiều khó khăn như thiếu vốn, kỹ thuật canh tác,... trong đó khó khăn lớn nhất là tập quán canh tác của nông dân, sản xuất theo hướng truyền thống, chạy theo năng suất, sản lượng, lạm dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt cỏ... Điều này đã làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe người lao động, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản xuất khẩu. Ngoài ra, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa sản xuất hàng hóa và tiêu thụ sản phẩm, do đó hiệu quả kinh tế chưa cao. Trước những khó khăn thách thức kể trên, đầu năm 2017 Ban Quản trị HTX đã chủ động, tiên phong tìm hiểu, học hỏi từ các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, đồng thời được sự hỗ trợ tích cực từ phía các cơ quan ban ngành của tỉnh và địa phương, HTX đã mạnh dạn chuyển đổi từ phương thức sản xuất nông nghiệp truyền thống sang sản xuất nông nghiệp hữu cơ bền vững, áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trong quản lý dịch hại cây trồng ưu tiên lựa chọn các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hữu cơ, sinh học trong phòng trừ dịch hại sử dụng máy phát cỏ quản lý cỏ dại, tạo môi trường sinh thái bền vững trên đồng ruộng. Hạn chế tối đa sử dụng các chất hóa học độc hại trong quá trình canh tác. Qua 02 năm áp dụng các biện pháp canh tác hữu cơ, đến năm 2019 HTX đã cho ra thị trường dòng sản phẩm cà phê sạch, hữu cơ chất lượng cao. Đến năm 2023, HTX đã có 05 thành viên sản xuất hồ tiêu đạt chứng nhận hữu cơ với diện tích 11,4 ha, sản lượng 42 tấn, bán với giá cộng thưởng 25% so với giá thị trường. Để đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm xuất khẩu, HTX đã đầu tư xây dựng hệ thống nhà kính phơi, chế biến cà phê Honey trên giàn trong nhà màng với quy mô khoảng 1.000m2, sử dụng hệ thống nhà máy rang xay, đóng gói hiện đại, sản xuất cà phê hạt rang và cà phê bột mang nhãn hiệu “Cà phê Rừng lạnh” với sản lượng khoảng 50 - 100 tấn/năm. Vườn hồ tiêu đạt chứng nhận hữu cơ của HTX Nông nghiệp Đoàn Kết Các sản phẩm của HTX Nông nghiệp Đoàn Kết luôn đảm bảo về chất lượng và an toàn thực phẩm được nhiều người ưa chuộng, chiếm thị phần lớn tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Trong những năm qua, HTX không ngừng phát triển, từ 25 thành viên ban đầu đến nay đã có 75 thành viên chính thức và 60 thành viên liên kết với diện tích đạt 450 ha. Trong đó: Diện tích cà phê là 300 ha, sản lượng khoảng 900 tấn/năm với 17 thành viên đã đạt chứng nhận cà phê hữu cơ (diện tích 31,3 ha, sản lượng đạt 107 tấn) Chứng nhận cà phê 4C (diện tích 101 ha, sản lượng đạt 300 tấn) Cà phê chất lượng cao (đạt 50 tấn). Diện tích hồ tiêu đạt chứng nhận RA - Tiêu chuẩn nông nghiệp bền vững là 150 ha, sản lượng đạt 450 tấn/năm (Hồ tiêu đạt chứng nhận hữu cơ ORGANIC USDA - NOP là 42,2 ha, sản lượng đạt 150 tấn/năm, với 22 thành viên tham gia). Tổng doanh thu hồ tiêu và cà phê năm 2024 đạt 186 tỷ đồng. Để tiếp tục nâng cao kiến thức về kỹ năng liên kết, hướng dẫn từ khâu sản xuất đến thu hoạch chế biến cà phê và hồ tiêu cho các thành viên trong HTX, năm 2025 HTX đã tổ chức được 07 lớp tập huấn (hồ tiêu 04 lớp, cà phê 03 lớp) phối hợp với Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng hỗ trợ xây dựng và thực hiện mô hình sản xuất cà phê theo hướng hữu cơ với 26 ha (26 hộ sản xuất tham gia). Qua đó, đã góp phần nâng cao kiến thức về lý thuyết cũng như thực hành trên đồng ruộng sản xuất cà phê cho các thành viên của HTX. Nhờ nỗ lực trong điều hành, áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ, các sản phẩm của HTX Đoàn Kết luôn đạt các tiêu chuẩn về chất lượng. HTX đã trở thành đơn vị chuyên cung cấp nguyên liệu cà phê nhân xô, cà phê chất lượng cao cho thị trường trong và ngoài tỉnh như: Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Đắk Lắk,... và đặc biệt, HTX được Công ty Chế biến Gia vị NEDSPICE Việt Nam chọn làm đối tác phát triển sản xuất hồ tiêu hữu cơ, đảm bảo đầu ra ổn định với giá cao. Ngoài tập trung sản xuất, nâng cao thu nhập cho các thành viên của HTX, HTX Đoàn Kết luôn quan tâm, chia sẻ thực hiện các hoạt động an sinh xã hội như: Ủng hộ nhân dân vùng lũ ở miền Bắc quà Tết cho hộ nghèo tài trợ cho các giải thể thao tại địa phương và ủng hộ xây dựng cơ sở vật chất, sân vận động, khu thể thao tại địa bàn dân cư. Hàng năm, HTX chi quỹ để đóng Bảo hiểm xã hội cho Ban Quản trị HTX gồm 07 thành viên với số tiền trên 25 triệu đồng. Đặc biệt, đã hơn 10 năm nay, các thành viên trong Ban Giám đốc, Hội đồng quản trị chỉ hoạt động và phục vụ cho HTX chứ không nhận lương, phụ cấp. Nhờ hoạt động có hiệu quả, đời sống và thu nhập của các thành viên trong HTX ngày càng tăng cao, điều đó đã thu hút số lượng các thành viên tham gia ngày càng đông và diện tích cây trồng được sản xuất theo hướng hữu cơ bền vững ngày càng gia tăng. Trong những năm qua, nhờ kiên trì áp dụng sản xuất hữu cơ, tuần hoàn nên sản phẩm của HTX luôn đạt chất lượng về tiêu chuẩn xuất khẩu, được ghi nhận ở một số kết quả sau: Sản phẩm Cà phê bột Rừng Lạnh và Hạt tiêu đen Rừng Lạnh đã được UBND tỉnh công nhận sản phẩm OCOP 3 sao Sản phẩm hồ tiêu được Công ty chế biến gia vị NEDSPICE Việt Nam chọn làm đối tác phát triển hồ tiêu hữu cơ Diện tích sản xuất của HTX được nằm trong vùng sản xuất đã được cấp chứng nhận vùng sản xuất cà phê ứng dụng công nghệ cao UBND tỉnh tặng Bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước giữa các cụm, khối thi đua năm 2022 và thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua xây dựng Hợp tác xã, Quỹ tín dụng Nhân dân điển hình tiên tiến giai đoạn 2021 - 2023 Tặng cờ thi đua đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua năm 2023,… Trong những năm tiếp theo, HTX tiếp tục chú trọng áp dụng sản xuất nông nghiệp bền vững, phát triển thêm diện tích Hồ tiêu và Cà phê hữu cơ nhằm mang lại cho môi trường xanh, sạch, giảm phát thải khí nhà kính, tạo nên sản phẩm chất lượng, có giá trị kinh tế cao phục vụ xuất khẩu, nâng cao đời sống nông dân. Ngoài ra, mô hình sản xuất của HTX còn là địa chỉ để rất nhiều đoàn công tác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh tham quan học tập kinh nghiệm. Nguyễn Thị Thảo - TTKN tỉnh Lâm Đồng
  • Xây dựng mô hình sản xuất khoai tây nguyên liệu mang lại hiệu quả cao tại vùng Tây Nguyên
    Xây dựng mô hình sản xuất khoai tây nguyên liệu mang lại hiệu quả cao tại vùng Tây Nguyên
    03/01/2026 09:11
    Tây Nguyên là vùng sản xuất khoai tây quan trọng thứ 2 của cả nước (sau vùng đồng bằng Sông Hồng), với điều kiện khí hậu thuận lợi, tại đây khoai tây có thể được tổ chức sản xuất quanh năm, đặc biệt là tại Lâm Đồng. Diện tích sản xuất khoai tây vùng Tây Nguyên trong những năm gần đây dao động từ khoảng 2.500 - 3.000 ha, năng suất trung bình đạt từ 18 - 20 tấn. Tuy nhiên, thời vụ sản xuất chính vẫn là vụ Đông Xuân và Xuân (chiếm khoảng 70 - 80% diện tích). Trong thời gian qua, việc sản xuất khoai tây, đặc biệt là khoai tây nguyên liệu tại vùng Tây Nguyên, bà con nông dân chưa chú trọng nhiều tới việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống, kỹ thuật canh tác, cơ giới hóa vào sản xuất, nhiều vùng còn canh tác thủ công theo phương pháp truyền thống dẫn tới chi phí về công lao động, về nguyên vật liệu trong sản xuất cao, đặc biệt không tạo được chuỗi giá trị, không liên kết người sản xuất với doanh nghiệp thu mua sản phẩm với giá ổn định. Từ đó doanh thu, hiệu quả từ sản xuất khoai tây thấp. Xây dựng mô hình sản xuất khoai tây nguyên liệu tại xã D’ran, tỉnh Lâm Đồng Nhận thấy tính cấp thiết của việc phải thay đổi phương pháp sản xuất, ứng dụng các tiến bộ trong sản xuất, đặc biệt là sử dụng cơ giới hóa tạo ra chuỗi liên kết, xây dựng được mô hình HTX liên kết với doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhằm nâng cao tối đa hiệu quả trong sản xuất, tạo ra sự ổn định và thu hút người dân tham gia sản xuất khoai tây, đưa cây khoai tây trở lại là cây trồng chủ lực của vùng. Từ đó Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa đề xuất Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho triển khai thực hiện dự án khuyến nông Trung ương “Xây dựng mô hình sản xuất khoai tây nguyên liệu gắn với hệ thống tiêu thụ sản phẩm tại một số tỉnh Tây nguyên” nhằm cải thiện hiệu quả sản xuất khoai tây nguyên liệu và nhân rộng mô hình ra toàn khu vực, cung cấp được nguồn khoai tây nguyên liệu đang rất thiếu hụt cho chế biến và ăn tươi hiện nay. Năm 2025 là năm thứ ba Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa (Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam) triển khai dự án khuyến nông Trung ương “Xây dựng mô hình sản xuất khoai tây nguyên liệu gắn với hệ thống tiêu thụ sản phẩm tại một số tỉnh Tây Nguyên”. Dự án được thực hiện với quy mô 05 ha tại xã Ia Tôr, tỉnh Gia Lai (trước ngày 01/7/2025 là xã Ia Bang, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai), 24 ha tại xã D’ran, tỉnh Lâm Đồng (trước ngày 01/7/2025 là xã Lạc Xuân, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) và 05 ha tại phường Xuân Trường - Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (trước ngày 01/7/2025 là xã Xuân Thọ, TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) với đơn vị phối hợp là Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng. Giống khoai tây được áp dụng trong dự án là các giống phổ biến, phù hợp với điều kiện sinh thái vùng Tây Nguyên. Các giống này phục vụ cho nhu cầu ăn tươi và chế biến. Tại các mô hình, chất lượng giống và vật tư được kiểm soát chặt chẽ. Vật tư có nguồn gốc xuất xứ và thông số kỹ thuật rõ ràng… Các mô hình được thực hiện sản xuất theo quy trình chuẩn, mỗi mô hình có 1 - 2 cán bộ trực tiếp theo dõi. Theo đánh giá, mô hình 05 ha sử dụng giống TK15.80 tại xã Ia Tôr, tỉnh Gia Lai có sự sinh trưởng, phát triển tốt, độ đồng đều cao. Tại thời điểm 50 - 60 ngày, mức độ phủ luống đạt 100%, không xuất hiện các triệu chứng bệnh héo xanh và virus. Bệnh mốc sương chỉ ở mức khoảng 2% tại thời điểm 50 - 60 ngày sau trồng, tuy nhiên sau đó được kiểm soát hoàn toàn. Tại xã D’ran thực hiện trên quy mô 24 ha và 05 ha tại phường Xuân Trường - Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng với giống Atlantic và TK15.80, kết quả cho thấy các giống này sinh trưởng, phát triển tốt, độ đồng đều cao. Tại thời điểm 50 - 60 ngày, mức độ phủ luống đạt 100% và không xuất hiện các triệu chứng bệnh héo xanh, virus trên đồng ruộng, bệnh mốc sương bị nhiễm nhẹ với khoảng 2%. Các mô hình sản xuất khoai tây cho năng suất trung bình trên 22 tấn/ha Ông Nguyễn Thế Nhuận - Chủ nhiệm dự án cho biết: Các mô hình với giống Atlantic và TK15.80 ở Lâm Đồng và Gia Lai do năm 2025 thời tiết biến đổi bất thường, các cơn bão tập trung vào tháng 10 và tháng 11 gây mưa lớn và dài ngày, có những nơi bị ngập úng (như xã D’ran, tỉnh Lâm Đồng) đã ảnh hưởng nhiều tới sinh trưởng và quá trình chăm sóc của các vườn mô hình. Tuy nhiên, với kinh nghiệm sản xuất khoai tây nhiều năm, đơn vị chủ trì đã phối hợp tốt với chính quyền địa phương và các hộ dân, rút kinh nghiệm ngập úng từ những năm trước đã lựa chọn các điểm triển khai ở trên cao và tránh xa khu vực suối xả của đập D’ran. Đồng thời, theo dõi dự báo thời tiết đã phối hợp cho các nông hộ và đơn vị bao tiêu sản phẩm thu hoạch sớm các vườn có nguy cơ ngập úng. Vì vậy, các vườn trong mô hình đều đảm bảo cho thu hoạch, tuy nhiên năng suất năm 2025 giảm nhiều so với năm 2024, chỉ đạt trung bình trên 24 tấn/ha (năm 2024 là trên 26 tấn/ha), các vườn ngoài mô hình đạt 22 tấn/ha, với giá bán được thống nhất với các đơn vị bao tiêu là 11.000 đồng/kg thì mỗi một ha cho doanh thu trên 240 triệu đồng và lợi nhuận đạt trên 120 triệu đồng. Từ kết quả trên, với điều kiện thời tiết bất lợi thì các mô hình khoai tây năm 2025 vẫn cho thu nhập cao hơn so với các đối tượng cây trồng khác cùng thời điểm, góp phần giảm thiệt hại cho bà con nông dân bị ảnh hưởng nặng nề bởi thiên tai”. Thông qua mô hình năm 2025, nhiều hộ ngoài dự án đã liên hệ, tìm hiểu, học hỏi để thực hiện. Đặc biệt, hiệu quả từ các mô hình sẽ góp phần chủ động nguồn khoai tây nguyên liệu cung cấp cho các cơ sở chế biến tại địa phương cũng như các vùng khác trên cả nước, đưa khoai tây trở lại là đối tượng cây trồng chính của vùng và nâng cao thu nhập cho bà con nông dân trên một đơn vị diện tích, giúp các nông hộ sản xuất bền vững và làm giàu trên chính quê hương của mình. Trần Anh Thông - Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa
  • Ứng dụng tiến bộ trong chăn nuôi gà Ai Cập đẻ trứng mang lại hiệu quả kinh tế cao tại địa phương
    Ứng dụng tiến bộ trong chăn nuôi gà Ai Cập đẻ trứng mang lại hiệu quả kinh tế cao tại địa phương
    12/12/2025 00:00
    Trong những năm gần đây, mô hình chăn nuôi gà Ai Cập đẻ trứng theo hướng chuồng khung nhiều tầng đang được nhiều hộ nông dân lựa chọn nhờ ưu điểm tiết kiệm diện tích, quản lý đàn dễ dàng và mang lại giá trị kinh tế ổn định. Tại địa phương, mô hình chăn nuôi 4.000 con gà Ai Cập đẻ trứng của hộ anh Phạm Sỹ Chiến ở xã Bảo Lâm 1 được xem là điển hình tiêu biểu khi áp dụng đồng bộ kỹ thuật mới, đảm bảo hiệu quả cao và phát triển bền vững. Với quy mô đàn gà gồm 4.000 gà mái đẻ trứng Ai Cập được nuôi trong hệ thống chuồng khung nhiều tầng giúp tối ưu không gian và giảm công chăm sóc. Toàn bộ đàn được cho ăn bằng thức ăn tổng hợp G69, trung bình mỗi ngày tiêu thụ khoảng 20 bao. Chủ hộ đồng thời xử lý men vi sinh trên nguồn phân thải giúp giảm mùi hôi và tạo thêm nguồn phân hữu cơ thu hồi, đủ chi phí mua trấu và công thu gom. Hiện nay, giá trứng thị trường biến động quanh mức 2.000 đồng/quả, mô hình nuôi 4.000 gà Ai Cập đẻ trứng vẫn chứng tỏ hiệu quả kinh tế nhờ sản lượng ổn định và cách tổ chức chăn nuôi khoa học. Với năng suất khoảng 3.600 trứng mỗi ngày, hộ nuôi vẫn giữ được doanh thu hơn 7,2 triệu đồng/ngày, tương đương gần 2,63 tỷ đồng/năm - một con số đủ cho thấy sự bền vững của hướng chăn nuôi này. Ở chiều chi phí, nguồn thức ăn chiếm tỷ trọng lớn nhất nhưng được chủ động kiểm soát. Đàn gà tiêu thụ khoảng 20 bao cám G69 mỗi ngày, với giá mua cám 220.000 đồng/bao, tương ứng chi phí hơn 1,6 tỷ đồng/năm. Cộng thêm thuốc thú y, chi phí quản lý và khoản đầu tư con giống ban đầu, tổng chi phí sản xuất vào khoảng 2,43 tỷ đồng/năm. Một điểm đáng chú ý là nguồn thu hồi từ gà mái thải loại sau chu kỳ khai thác. Với giá bán 85.000 đồng/con, chủ hộ thu lại được 340 triệu đồng, giúp bù đắp đáng kể khoản vốn con giống ban đầu và tạo thêm một dòng thu phụ ổn định. Sau khi cân đối toàn bộ thu - chi, đàn gà vẫn mang lại cho gia đình anh Chiến lợi nhuận khoảng 540 triệu đồng/năm, tương đương bình quân 45 triệu đồng/tháng. Trong bối cảnh giá vật tư nông nghiệp tăng và đầu ra nhiều ngành chăn nuôi bấp bênh, mức lợi nhuận này được xem là khá hấp dẫn và ít rủi ro. Anh Phạm Sỹ Chiến ở xã Bảo Lâm 1 với mô hình chăn nuôi gà Ai Cập đẻ trứng Điểm nổi bật của mô hình nuôi 4.000 gà Ai Cập đẻ trứng nằm ở việc áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật vào thực tế chăn nuôi. Anh Chiến chia sẻ, “Hệ thống chuồng khung nhiều tầng giúp tận dụng tối đa không gian, giảm công lao động và hạn chế tiếp xúc trực tiếp giữa người và gia cầm - đồng thời giúp phòng chống bệnh hô hấp, một trong những rủi ro phổ biến của chăn nuôi gà”. Thức ăn tổng hợp G69 được sử dụng thống nhất trong suốt chu kỳ nuôi, đảm bảo cung cấp đủ dưỡng chất giúp đàn gà duy trì năng suất trứng ổn định. Song song đó, chuồng gà nhà anh áp dụng chế phẩm men vi sinh để xử lý phân ngay trong chuồng, vừa giảm mùi hôi, vừa kiểm soát khí thải, tạo môi trường sạch hơn, hạn chế phát sinh dịch bệnh và còn tận dụng được lượng phân hữu cơ làm nguồn thu phụ. Việc tiêm phòng và thực hiện lịch phòng bệnh nghiêm ngặt, nhờ chủ động vaccin định kỳ, đàn gà được bảo vệ tốt, tỷ lệ hao hụt thấp, chi phí phát sinh được kiểm soát chặt chẽ. Tổng hòa các yếu tố trên tạo nên mô hình chăn nuôi gà Ai Cập đẻ trứng vừa hiệu quả, vừa bền vững. Không chỉ giảm rủi ro về dịch bệnh, tiết kiệm nhân công, mô hình còn cho năng suất cao và ổn định quanh năm. Đây là lý do mô hình đang trở thành lựa chọn tiềm năng cho nhiều hộ chăn nuôi muốn chuyển hướng sang sản xuất theo hướng kỹ thuật - an toàn - kinh tế. Vũ Văn Bình - Cộng tác viên xã Bảo Lâm 1, tỉnh Lâm Đồng
  • Trồng hoa cúc cho hiệu quả kinh tế cao
    Trồng hoa cúc cho hiệu quả kinh tế cao
    12/12/2025 00:00
    Với những kinh nghiệm trong việc trồng và phát triển hoa cúc trong thời gian còn ở Đà Lạt, chị Nguyễn Hoàng Minh Thư ở tổ dân phố Thanh Xuân 2, Phường 1 Bảo Lộc đã chủ động đưa mô hình này về địa phương. Thời gian đầu tuy còn gặp một số khó khăn, nhưng với sự kiên nhẫn, miệt mài, thích ứng linh hoạt với điều kiện thiên nhiên, đến nay, mô hình hoa cúc của chị đã cho thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Trên diện tích hơn 3 sào của gia đình, hàng ngàn hoa cúc trắng, vàng, cam đua nhau khoe sắc. Đây là các loại cúc tứ quý, cúc đại đoá và cúc mai cam, những giống hoa khá quen thuộc có nguồn gốc từ Trung Quốc và Nhật Bản. Hoa cúc thuộc họ cây thân thảo nhưng lại có sức sống vô cùng mãnh liệt, mang nhiều ý nghĩa sâu sắc, được xếp vào danh sách đa dạng về giống loài và màu sắc nhất nhì trong các loại hoa. Hoa cúc trắng, vàng, cam đua nhau khoe sắc Bắt đầu xây dựng mô hình hoa cúc này từ năm 2023, chị Nguyễn Hoàng Minh Thư nhận thấy mặc dù khí hậu ở Bảo Lộc mát mẻ, cây cối dễ sinh trưởng, phát triển, tuy nhiên việc áp dụng những kinh nghiệm vốn có trong suốt 7 năm trồng hoa tại Đà Lạt lại không hề dễ dàng. Khí hậu, thổ nhưỡng khác nhau dẫn đến phương pháp chăm sóc đòi hỏi phải khác nhau, thậm chí còn khó khăn hơn ở môi trường Đà Lạt. Sau thời gian nghiên cứu, rút tỉa từ kinh nghiệm và học hỏi thêm từ người quen, chị Thư đã dần đưa các giống hoa cúc này thích nghi với khí hậu, vùng đất xứ B’Lao. Chị Thư cũng cho biết, với mỗi giống cúc thì việc lựa chọn giống đầu vào rất quan trọng, lượng phân bón và thuốc cho từng loại cũng phải chú trọng để hoa có thể phát triển tốt nhất, chống lại sâu bệnh làm xấu hoa, hư lá. Chia sẻ về công đoạn trồng, trước tiên cần phải tiến hành cày bừa đất cho tơi xốp, nhổ sạch cỏ dại, lên luống rộng 1m, dài 20m, cao 20 - 30cm, trước khi trồng bón lót 1 tấn phân chuồng hoai, vôi bột, lân vi sinh… Chị cũng lắp đặt hệ thống tưới nước tự động để phân bổ lượng nước đều cho các luống. Theo chị Thư, nên trồng với mật độ cây cách cây 25cm, trong quá trình trồng thường xuyên tưới nước cho cây nhất là lúc cây còn nhỏ, từ 10 - 15 ngày cây bắt đầu bén, bộ rễ phát triển tiến hành nhổ cỏ dại, tưới phân theo dõi sâu bệnh để phòng trừ kịp thời. Khi nhánh có nụ, cắt tỉa bỏ nụ xung quanh để lại nụ chính. Khi nở bông to và đều, khi cây có hoa hạn chế xới gốc tránh cây lỏng gốc, dễ bị đổ ngã. Vào những dịp như ngày Tết, ngày rằm, người trồng hoa cúc cần áp dụng một số biện pháp khoa học kỹ thuật như điều chỉnh lượng phân bón sao cho phù hợp, điều chỉnh độ ẩm, ánh sáng của cây. Đối với hoa cúc trắng, cần chăm sóc kỹ hơn để hoa đạt được độ sạch tối ưu, đảm bảo yêu cầu khi đưa ra thị trưởng. Từ khi xuống giống cho đến khi thu hoạch dao động từ 3 đến 3,5 tháng, khi hoa bắt đầu chớm nở thì cần dùng lưới để bọc lại, tránh bị dập nát bởi tác động bên ngoài. Chị Thư cho biết: “Ban đầu khi đưa mô hình này về địa phương, tôi cũng gặp một số khó khăn vì khí hậu ở Bảo Lộc không như trên Đà Lạt, kích thước và màu sắc hoa phát triển có phần hạn chế. Sau đó, tôi phải học hỏi thêm kinh nghiệm tử mạng internet và bạn bè, từ đó thay đổi, điều chỉnh phương pháp trồng, chăm sóc và dùng thêm các vi chất thích hợp để hướng cho cây hoa phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng nơi đây. Đồng thời cần phải chăm sóc, cắt tỉa thường xuyên cho từng nhánh hoa để sâu bệnh không gây ảnh hưởng đến cây”. Hoa cúc đại đóa phát triển phù hợp với vùng đất Bảo Lộc Nhờ biết áp dụng khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm trong sản xuất nên việc trồng hoa cúc đã thích nghi với điều kiện và thổ nhưỡng nơi đây. Cây sinh trưởng và phát triển khá tốt, đạt chất lượng hoa không thua gì hoa được trồng ở vùng Đà Lạt, Đức Trọng. Mỗi ngày, chị Thư đều xuất hoa cho các thương lái đến thu mua. Hơn 2 năm qua, thu nhập trung bình của vườn hoa cúc mang lại cho gia đình chị khoảng hơn 200 triệu đồng sau khi trừ đi các khoản chi phí. Với tư duy dám nghĩ, dám làm, mô hình hoa cúc của chị Nguyễn Hoàng Minh Thư đã góp phần vào việc đa dạng hoá cây trồng tại địa phương. Hy vọng rằng, trong thời gian tới, sẽ có nhiều mô hình hoa cúc phát triển tại các phường khu vực Bảo Lộc để góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng, nâng cao thu nhập cho bà con nông dân và đưa nền nông nghiệp địa phương ngày càng vươn xa. Thanh Trúc - Trung tâm DVTH phường 2 Bảo Lộc
  • Kết quả bước đầu triển khai thực hiện dự án “Xây dựng mô hình thâm canh cây Mắc ca theo tiêu chuẩn VietGAP gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm tại một số tỉnh Tây Nguyên” tại Lâm Đồng
    Kết quả bước đầu triển khai thực hiện dự án “Xây dựng mô hình thâm canh cây Mắc ca theo tiêu chuẩn VietGAP gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm tại một số tỉnh Tây Nguyên” tại Lâm Đồng
    18/11/2025 00:00
    Hạt mắc ca có giá trị dinh dưỡng cao - được mệnh danh là vua các loại hạt. Hạt có vỏ cứng, tỷ lệ nhân trong hạt đạt 30-50%, tỷ lệ dầu trong nhân đạt 71- 80%. Dầu mắc ca là sản phẩm có thể sử dụng đa dạng, rộng rãi trong nhiều ngành công nghệ thực phẩm như làm dầu ăn, dầu salad, dầu dưỡng da, dầu dược liệu, mỹ phẩm. Nhân mắc ca dùng ăn tươi hoặc ở dạng hạt sấy, rang với muối hoặc đường, mật ong hoặc các loại gia vị khác, làm nhân sôcôla, bánh, kẹo, kem ăn, nước uống... Hàm lượng protein trong nhân có tới 9,2% gồm 20 loại axit amin, trong đó có 8 loại cho cơ thể con người không tự tổng hợp được. Cây mắc ca ngoài trồng lấy hạt còn có tác dụng chống xói mòn, bảo vệ đất, góp phần vào việc giảm thiểu phát thải CO2 chống biến đổi khí hậu. Hiện nay, cây mắc ca được nông dân trồng xen trong nhiều vườn cây cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả... Đến nay, tỉnh Lâm Đồng có diện tích trồng mắc ca khoảng 16.349 ha, sản lượng năm 2025 đạt khoảng 13.700 tấn, trong đó trồng trên đất nông nghiệp 80%, trồng trên đất lâm nghiệp 20%. Về thu mua chế biến, đến nay toàn tỉnh hiện có khoảng 75 cơ sở, doanh nghiệp, hợp tác xã thu mua, sơ chế, chế biến mắc ca công suất chế biến nguyên liệu khoảng 6.000 tấn nguyên liệu/năm Thị trường tiêu thụ chủ yếu là siêu thị, cửa hàng tiện lợi trong nước và xuất khẩu sang Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật, Thái Lan, Úc,… Trên địa bàn tỉnh đã triển khai xây dựng 09 chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm với 1.057 hộ tham gia, diện tích 1.065 ha, sản lượng 1.125 tấn. Mặc dù đã hình thành các liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Mắc ca giữa các hộ trồng cây Mắc ca với các doanh nghiệp, hợp tác xã trồng và sản xuất kinh doanh hạt Mắc ca. Tuy nhiên, quy mô liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm còn nhỏ lẻ, phân tán, không tập trung và thiếu tính bền vững việc thu hút các doanh nghiệp đủ tiềm lực tham gia liên kết theo chuỗi giá trị đối với sản phẩm Mắc ca còn hạn chế ảnh hưởng đến giá trị sản phẩm. Xuất phát từ tình hình thực tế tại các địa phương, cũng như nhu cầu thực tế về sản phẩm an toàn theo tiêu chuẩn, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng thực hiện dự án khuyến nông Trung ương “Xây dựng mô hình thâm canh Mắc ca theo tiêu chuẩn VietGAP, gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm tại một số tỉnh Tây Nguyên” tại xã Tân Hà Lâm Hà với quy mô 10ha/10 hộ nông dân tham gia. Dự án được triển khai từ tháng 4 năm 2025, đến nay qua 8 tháng triển khai đã đạt được một số kết quả: Về chọn điểm chọn hộ thực hiện mô hình: Công tác chọn hộ chọn điểm thực hiện mô hình được sự phối hợp chặt chẽ giữa Chính quyền địa phương xã và Trung tâm Khuyến nông tỉnh, thực hiện công khai minh bạch, các điểm các hộ được chọn đảm bảo đúng các tiêu chí yêu cầu của dự án chọn được 10 hộ/10ha tham gia mô hình. Công tác hỗ trợ vật tư, phân bón thực hiện mô hình: Các loại vật tư, phân bón hỗ trợ cho các nông hộ thực hiện mô hình được chọn là các sản phẩm được đăng ký lưu hành trên thị trường, mua theo hình thức chỉ định thầu, các loại sản phẩm đảm bảo đúng tiêu chuẩn, chất lượng, bàn giao cho các nông hộ đầy đủ số lượng dưới sự giám sát của Chính quyền địa phương, Trung tâm Khuyến nông và đơn vị cung cấp. Về kỹ thuật áp dụng: Đã tổ chức đào tạo, tập huấn 02 lớp với 60 nông dân theo mô hình gồm 10 hộ nông dân trực tiếp thực hiện mô hình và 50 nông dân trồng mắc ca ở địa phương có nhu cầu. Với nội dung hướng dẫn quy trình kỹ thuật thâm canh cây mắc ca theo tiêu chuẩn VietGAP từ lý thuyết đến thực hành. Mặt khác các cán bộ kỹ thuật còn thường xuyên kiểm tra và hướng dẫn kỹ thuật trực tiếp tại từng vườn cho các nông hộ tham gia mô hình. Từ đó giúp các nông hộ nắm chắc kỹ thuật để thực hiện mô hình. Ngoài ra, dự án còn tổ chức 02 lớp tập huấn ngoài mô hình cho 60 bà con nông dân trên địa bàn các xã lân cận, giúp bà con nông dân trồng mắc ca tiếp cận được với quy trình kỹ thuật thâm canh cây mắc ca theo tiêu chuẩn VietGAP và biết được nội dung triển khai dự án để áp dụng vào thực tế sản xuất của hộ gia đình. Về mô hình liên kết tổ chức quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm: Đã tổ chức 01 cuộc họp với 30 đại biểu gồm 10 hộ nông dân tham gia mô hình, 14 hộ nông dân ngoài mô hình, 06 cán bộ, HTX, doanh nghiệp địa phương thống nhất và thành lập 01 tổ “Tổ Liên kết sản xuất và tiêu thụ mắc ca theo tiêu chuẩn VietGAP tại Tân Hà Lâm Hà”, đồng thời thống nhất quy chế hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổ. Tiếp đó, đã chức 01 cuộc hội thảo liên kết tiêu thụ sản phẩm với 30 đại biểu tham dự, qua hội thảo đã ký được hợp đồng bao tiêu sản phẩm giữa “Tổ Liên kết sản xuất và tiêu thụ mắc ca theo tiêu chuẩn VietGAP tại Tân Hà Lâm Hà” với Công ty TNHH Nông sản Huy Hiếu tại địa phương. Về công tác thông tin tuyên truyền: Đã thực hiện gắn 01 bảng hiệu giới thiệu về mô hình tại địa điểm thực hiện mô hình Thực hiện 01 cuộc tham quan hội thảo đầu bờ tại mô hình với 50 đại biểu tham dự tại điểm thực hiện mô hình, qua hội thảo bà con nông dân địa phương đánh giá cao kết quả mô hình và sẽ áp dụng nhân rộng trong thời gian tới Tổ chức 01 cuộc sơ kết dự án với 50 đại biều tham dự, qua hội đã đánh giá cụ thể những kết quả đạt được, những tồn tại khó khăn trong quá trình triển khai, đồng thời đề ra những giải pháp để tiếp tục thực hiện dự án trong thời gian tới. Kết quả mô hình đến nay, toàn bộ diện tích 10ha/10 hộ tham gia mô hình đã được cấp chứng nhận VietGAP, năng suất bình quân đạt 03 tấn hạt/ha, toàn bộ sản phẩm được Công ty TNHH Nông sản Huy Hiếu thu mua, lợi nhuận sau khi trừ toàn bộ chi phí đạt 163 triệu đồng/ha/năm, so với ngoài mô hình cao hơn 17%. Đồng thời 10 ha/10 hộ tham gia mô hình đã được cấp mã số vùng trồng mắc ca, đây là cơ sở để xây dựng thương hiệu cho mắc ca Tân Hà Lâm Hà trong thời gian tới. Thông qua dự án, người dân trên địa bàn xã Tân Hà Lâm Hà nói riêng và người dân trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng nói chung được tiếp cận với tiến bộ kỹ thuật trong công tác trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến, bảo quản mắc ca theo tiêu chuẩn VietGAP, góp phần giảm chi phí trong sản xuất, thay đổi tập quán canh tác, tăng hiệu quả kinh tế trên đơn vị sản xuất. Thay đổi nhận thức của người dân từ việc sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất liên kết với nhau thành sản xuất hàng hóa với quy mô lớn, cùng sản xuất, cùng thu hoạch, cùng tiêu thụ, tạo được vùng sản xuất mắc ca bền vững, tạo ra nguồn nguyên liệu mắc ca ổn định, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, tạo công ăn, việc làm, thu nhập ổn định cho người dân. Nguyễn Thị Thùy – TTKN tỉnh Lâm Đồng
  • Mô hình chăn nuôi cừu sinh sản thích ứng với biến đổi khí hậu vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
    Mô hình chăn nuôi cừu sinh sản thích ứng với biến đổi khí hậu vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
    29/10/2025 16:17
    Trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) ngày càng gay gắt, các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ, đặc biệt là Ninh Thuận và Bình Thuận cũ đang phải đối mặt với tình trạng nắng nóng kéo dài, khô hạn nghiêm trọng, thiếu nước tưới và hạn hán thường xuyên. Để thích ứng với điều kiện khắc nghiệt này, ngành nông nghiệp các địa phương đã và đang chuyển hướng mạnh mẽ từ trồng trọt sang chăn nuôi gia súc nhai lại. Trong đó, cừu được xem là vật nuôi đặc trưng, loài vật này có khả năng chịu hạn, chịu nóng tốt, tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên phong phú như cỏ khô, cây bụi, thậm chí là xương rồng. Ngoài ra, chu kỳ sinh sản nhanh (2 năm/3 lứa) và giá trị thịt cao giúp nghề chăn nuôi cừu trở thành sinh kế hiệu quả, bền vững cho người dân vùng bán khô hạn. Nhằm phát huy lợi thế đó, Trung tâm Khuyến nông Ninh Thuận (nay là Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp tỉnh Khánh Hòa - chủ nhiệm dự án) phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Bình Thuận (nay là Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng) triển khai dự án “Xây dựng mô hình chăn nuôi cừu sinh sản thích ứng với biến đổi khí hậu vùng Duyên hải Nam Trung Bộ”, thuộc Chương trình khuyến nông Trung ương giai đoạn 2024 – 2026. Trong năm 2025, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng triển khai thực hiện dự án với tổng kinh phí 840.087.000 đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ là 646.302.000 đồng và phần vốn đối ứng của người dân là 193.785.000. Cụ thể, mô hình sẽ triển khai: 05 con cừu đực giống và 100 con cừu cái giống, thực hiện tại xã Tuy Phong, tỉnh Lâm Đồng 05 hộ dân được chọn tham gia theo tiêu chí bảo đảm đủ điều kiện chuồng trại, kinh nghiệm và cam kết đối ứng vốn, nằm trong vùng quy hoạch phát triển chăn nuôi, tự nguyện tham gia và có khả năng đối ứng Mỗi hộ nuôi được hỗ trợ 01 con cừu đực và 20 con cừu cái. Các chỉ tiêu kỹ thuật của mô hình gồm: Số lứa đẻ đạt ≥ 1,6 lứa/cái/năm Khối lượng cừu sơ sinh ≥ 2,3 kg/con Tỷ lệ nuôi sống đến 3 tháng tuổi ≥ 90% Hiệu quả kinh tế tăng ≥ 10% so với chăn nuôi đại trà. Dự án sẽ hỗ trợ 70% giống và vật tư, người dân đối ứng 30%, gồm: 105 con cừu giống (đực lai 10 – 12 tháng tuổi, 28 – 32 kg/con cái lai 6 – 8 tháng tuổi, 16 – 20 kg/con) 115 kg thức ăn hỗn hợp/con (độ đạm ≥16%), vaccine phòng bệnh, tảng đá liếm, vật tư thú y. Toàn bộ giống đều có nguồn gốc rõ ràng, chứng nhận kiểm dịch, công bố tiêu chuẩn chất lượng cơ sở theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Để đảm bảo tính bền vững, dự án đặc biệt chú trọng chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho người dân. Trong năm, dự án tổ chức: 6 lớp tập huấn, hội nghị tham quan, tổng kết mô hình cho các nông hộ tham gia mô hình và các hộ dân có nhu cầu với khoảng 140 nông dân tham dự. Nội dung tập huấn dựa trên quy trình kỹ thuật chăn nuôi cừu sinh sản của Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây, bao gồm kiến thức về sinh lý sinh sản, dinh dưỡng, chuồng trại, phòng trị bệnh, ghi chép số liệu và kỹ năng quản lý đàn. Đồng thời giúp nông dân tiếp cận kỹ thuật tiên tiến, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế. Phương pháp giảng dạy “Cầm tay chỉ việc”, kết hợp lý thuyết và thực hành tại chuồng nuôi thực tế. Khi hoàn thành, mô hình không chỉ giúp nâng cao năng suất, chất lượng đàn cừu, mà còn góp phần giải quyết tình trạng cận huyết, đồng huyết đang làm giảm năng suất sinh sản của đàn cừu Phan Rang hiện nay. Việc chọn lọc, lai tạo có kiểm soát và luân chuyển đực giống sẽ cải thiện chất lượng con giống, tăng tỷ lệ sinh sản, nâng cao khối lượng thịt và giá trị kinh tế. Đến ngày 20/10/2025, tại Nhà văn hoá xã Tuy Phong, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng đã phối hợp với Phòng Kinh tế xã Tuy Phong, Trạm Kỹ thuật nông nghiệp khu vực: Bắc Bình, Hàm Thuận tiến hành bàn giao giống và vật tư cho các hộ dân tham gia mô hình. Các hộ chọn con giống theo hình thức bốc thăm: chia 05 ô, mỗi ô 21 con cừu (20 cái và 01 đực) có điều chỉnh trọng lượng bình quân đồng đều giữa các ô và tổ chức bốc thăm theo ô. Các hộ dân tham gia mô hình đồng ý phân chia theo hình thức này và rất phấn khởi khi nhận được cừu giống. Mô hình cừu tại hộ ông Mang Ba - xã Tuy Phong, tỉnh Lâm Đồng Đến nay, đàn cừu thích nghi tốt điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng tại địa phương. Do năm 2025 chỉ còn 02 tháng là kết thúc nên chưa đánh giá được các chỉ tiêu mà mô hình đã đặt ra. Năm 2026, cán bộ kỹ thuật theo dõi mô hình tiếp tục đánh giá khả năng sinh trưởng, sinh sản của mô hình. Dự án “Xây dựng mô hình chăn nuôi cừu sinh sản thích ứng với biến đổi khí hậu vùng Duyên hải Nam Trung Bộ” không chỉ là bước đi phù hợp với chiến lược tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với ứng phó biến đổi khí hậu, mà còn là mô hình sinh kế bền vững, giúp nông dân nâng cao thu nhập, ổn định đời sống và phát triển nông thôn mới. Ngoài lợi ích kinh tế, mô hình còn hướng đến phát triển du lịch sinh thái nông nghiệp, khai thác hình ảnh “đồng cừu trắng giữa nắng vàng gió biển” biểu tượng đặc trưng của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, góp phần quảng bá văn hóa, thu hút du khách và tạo thêm nguồn thu nhập cho nông hộ. Với sự phối hợp chặt chẽ giữa hệ thống Khuyến nông, chính quyền địa phương và người dân, mô hình hứa hẹn sẽ được nhân rộng trong toàn vùng, trở thành điển hình tiêu biểu về thích ứng thông minh với biến đổi khí hậu, phát triển nông nghiệp sinh thái bền vững ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Quỳnh Trâm - TTKN tỉnh Lâm Đồng
  • Thực hiện tốt Kế hoạch số 4517/KH-UBND phát triển vùng lúa thương phẩm chất lượng cao của tỉnh tới năm 2025
    Thực hiện tốt Kế hoạch số 4517/KH-UBND phát triển vùng lúa thương phẩm chất lượng cao của tỉnh tới năm 2025
    24/04/2025 16:13
    Trong thời gian qua, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bình Thuận đã triển khai nhiều mô hình trình diễn đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất lúa tại các vùng sản xuất trọng điểm trên địa bàn tỉnh như: các xã Hồng Thái, Phan Hòa (huyện Bắc Bình) xã Bắc Ruộng, Gia An (huyện Tánh Linh) xã Nam Chính (huyện Đức Linh) xã Phú Lạc (huyện Tuy Phong) mang lại hiệu quả rõ nét cả về kinh tế, môi trường lẫn chuyển đổi nhận thức trong sản xuất của nông dân. Mô hình trình diễn áp dụng một số giống lúa mới chất lượng cao tại xã Hồng Thái, huyện Bắc Bình Thông qua các mô hình, Trung tâm đã phối hợp chuyển giao giống lúa mới có năng suất, chất lượng cao, phù hợp điều kiện canh tác của từng địa phương. Đồng thời, công tác tập huấn kỹ thuật thâm canh và đẩy mạnh chương trình xã hội hóa giống lúa được chú trọng, góp phần từng bước nâng cao năng lực sản xuất cho bà con nông dân. Mô hình Trình diễn sản xuất lúa theo tiêu chuẩn VietGAP tại xã Gia An, huyện Tánh Linh Đặc biệt, các mô hình triển khai đã áp dụng có hiệu quả các quy trình kỹ thuật tiên tiến như “3 giảm, 3 tăng” (giảm lượng giống gieo, thuốc bảo vệ thực vật, phân đạm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế) và “1 phải, 5 giảm” (phải sử dụng giống xác nhận giảm lượng giống gieo, phân đạm, thuốc BVTV, nước tưới và chi phí sản xuất). Nhờ đó, nhiều chỉ tiêu sản xuất đã được cải thiện vượt bậc: - Giảm mật độ gieo sạ từ 60 – 80 kg/ha, góp phần tiết kiệm chi phí giống khoảng 1,5 triệu đồng/ha. - Giảm 4 – 6 lần tưới/vụ, tiết kiệm đáng kể nguồn nước, phù hợp điều kiện hạn hán kéo dài ở khu vực. - Giảm chi phí sản xuất từ 2 – 2,5 triệu đồng/ha, nhờ sử dụng hợp lý vật tư đầu vào. - Năng suất lúa tăng từ 1,7 – 2,5 tạ/ha, giúp nâng cao hiệu quả đầu tư và giá trị sản phẩm. - Lợi nhuận tăng hơn 20% so với canh tác đại trà, sâu bệnh hại ít xuất hiện, chi phí thuốc BVTV giảm. - Chất lượng hạt lúa được nâng lên, đảm bảo an toàn thực phẩm và phục vụ tốt hơn cho thị trường tiêu dùng. Mô hình “Trình diễn áp dụng một số giống lúa chất lượng cao” tại xã Nam Chính, huyện Đức Linh Bà con nông dân tham gia mô hình đánh giá cao hiệu quả thực tế, đặc biệt là việc sử dụng giống phù hợp thổ nhưỡng, dễ chăm sóc, ít sâu bệnh và cho hạt chắc, đẹp. Thông qua mô hình, nông dân được hướng dẫn từ khâu làm đất, gieo sạ, bón phân cân đối đến quản lý dịch hại theo hướng sinh học, thân thiện môi trường. Mô hình cũng tạo điều kiện để bà con được trực tiếp tham gia sản xuất, học hỏi kỹ thuật thông qua các buổi tập huấn, hội thảo đầu bờ, từ đó tạo nên sự lan tỏa tích cực trong cộng đồng. Việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật không chỉ góp phần tăng thu nhập mà còn giúp nông dân thay đổi tập quán canh tác theo hướng bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu. Qua đó cũng là dịp để cán bộ kỹ thuật, chính quyền địa phương và nông dân trao đổi, rút kinh nghiệm, chuẩn bị nhân rộng mô hình trong vụ tới. Bên cạnh đó, chương trình còn tổ chức các hoạt động giao lưu, sinh hoạt tập thể, tạo không khí đoàn kết, gắn bó giữa cán bộ kỹ thuật và cộng đồng dân cư địa phương. Mô hình sản xuất lúa theo tiêu chuẩn VietGAP hoặc tương đương - xã Bắc Ruộng, Tánh Linh Đây là minh chứng sống động cho vai trò nòng cốt của Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bình Thuận trong việc phát triển, nhân rộng vùng lúa chất lượng cao từ đó khẳng định hiệu quả của công tác khuyến nông và sức lan tỏa của khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Trong thời gian tới, Trung tâm sẽ tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan và địa phương đẩy mạnh nhân rộng mô hình, góp phần thực hiện thắng lợi Kế hoạch số 4517/KH-UBND năm 2023 về phát triển vùng lúa thương phẩm chất lượng cao đến năm 2025 của tỉnh đáp ứng mục tiêu phát triển nông nghiệp hiện đại, hiệu quả, bền vững theo tinh thần Nghị quyết số 05-NQ/TU của Tỉnh ủy Bình Thuận. Thuỷ Tiên
Tổng số : 82 bài viết
Trang
123456789