Đang online: 43
Hôm nay: 676
Trong tuần: 8067
Trong tháng: 30924
Tổng truy cập: 10654669
  • Men tỏi - Giải pháp sinh học hiệu quả trong chăn nuôi gia súc, gia cầm
    Men tỏi - Giải pháp sinh học hiệu quả trong chăn nuôi gia súc, gia cầm
    10/04/2026 14:18
    Trước những thách thức về an toàn thực phẩm, kháng sinh và chi phí chăn nuôi ngày càng gia tăng, ngành chăn nuôi Việt Nam nói chung và tỉnh Lâm Đồng nói riêng đang chuyển hướng chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học, bền vững. Một trong những giải pháp được nhiều hộ chăn nuôi và trang trại áp dụng hiện nay là sử dụng men tỏi, một chế phẩm sinh học lên men từ tỏi. Không chỉ giúp tăng sức đề kháng, men tỏi còn góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Men tỏi là sản phẩm được tạo ra từ quá trình lên men tỏi tươi bằng các chủng vi sinh vật có lợi như Bacillus subtilis, Lactobacillus spp., Saccharomyces (nấm men). Men tỏi có khả năng ức chế vi khuẩn có hại: E. coli, Salmonella, Clostridium… Trong quá trình lên men, các hợp chất có hoạt tính sinh học trong tỏi - đặc biệt là Allicin được chuyển hóa thành các dạng dễ hấp thụ hơn đối với vật nuôi. Chế phẩm men tỏi thường được sản xuất dưới dạng lỏng hoặc bột, dễ phối trộn vào thức ăn hoặc nước uống, có một số công dụng như: Thứ nhất, tăng cường sức đề kháng và phòng bệnh: Men tỏi có khả năng kháng khuẩn, kháng virus và kháng nấm mạnh mẽ nhờ hoạt chất Allicin và các axit hữu cơ sinh ra trong quá trình lên men. Sử dụng thường xuyên giúp gia súc, gia cầm giảm nguy cơ mắc các bệnh về hô hấp, tiêu hóa nhất là trong thời điểm giao mùa hoặc khi thời tiết thay đổi thất thường. Thứ hai, kích thích tiêu hóa, tăng trọng nhanh: Men tỏi hỗ trợ cân bằng hệ vi sinh đường ruột, kích thích tiêu hóa giúp vật nuôi ăn ngon, hấp thu dinh dưỡng tốt hơn, bổ sung men tỏi đúng liều lượng, gia cầm có thể tăng trọng nhanh hơn 5-10% so với nhóm đối chứng, đồng thời giảm tỷ lệ hao hụt thức ăn. Thứ ba, giảm mùi hôi và ô nhiễm môi trường: Chăn nuôi tập trung thường đi kèm với vấn đề ô nhiễm do chất thải. Men tỏi giúp cải thiện quá trình tiêu hóa và hấp thu, nhờ đó giảm lượng phân thải và mùi hôi chuồng trại. Một số trang trại sử dụng men tỏi liên tục giúp giảm đáng kể mùi Amoniac và Hydro sulfua - những tác nhân chính gây ô nhiễm không khí trong chăn nuôi. Thứ tư, thay thế một phần kháng sinh: Trong bối cảnh việc lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi gây lo ngại về kháng thuốc và dư lượng trong thực phẩm, men tỏi được xem là một giải pháp thay thế hiệu quả và an toàn hơn. Không chỉ giúp giảm chi phí thuốc thú y, việc sử dụng men tỏi còn góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Chị Nguyễn Thị Thanh đang trộn men tỏi vào thức ăn bổ sung cho đàn gà Tại nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, một số hộ chăn nuôi đã áp dụng men tỏi vào mô hình nuôi gà, heo, bò vỗ béo và cho kết quả tốt. Điển hình hộ chị Nguyễn Thị Thanh - Chủ trang trại gà thả vườn tại xã Hàm Liêm, chia sẻ: Trước đây, mỗi lứa gà tôi đều phải dùng nhiều thuốc kháng sinh nhưng từ khi trộn men tỏi vào cám hoặc bắp, đàn gà khỏe mạnh, ít bệnh, chất lượng thịt thơm ngon. Trước khi sử dụng men tỏi, chi phí thức ăn cho 1.000 con gà dao động 5,0 - 5,3 tấn cám, bắp. Sau khi áp dụng, lượng thức ăn giảm còn 4,5 - 4,8 tấn. Anh Nguyễn Ngọc Ánh - chủ hộ chăn nuôi heo nái tại xã Hồng Sơn cùng chia sẻ: Với đàn heo nái 20 con và heo thịt hơn 50 con, men tỏi được sử dụng 3 lần/tuần. Men tỏi trộn với cám (7-12 ml/con/ngày) và kết hợp pha nước uống với liều 1-2 ml men tỏi/lít nước giúp đàn heo giảm bệnh. Từ đó giúp gia đình anh giảm 80% chi phí kháng sinh, giảm khoảng 60% mùi hôi chuồng trại, đối với heo thịt rút ngắn thời gian nuôi 0,5 tháng, giúp giảm lượng thức ăn đáng kể từ 10 - 12%, tăng hiệu quả kinh tế rõ rệt. Men tỏi cần được bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp để đảm bảo hoạt tính vi sinh. Không thay thế hoàn toàn các biện pháp chăm sóc khác, men tỏi là chế phẩm hỗ trợ, cần kết hợp với chế độ dinh dưỡng, vệ sinh chuồng trại hợp lý để đạt hiệu quả tối ưu. Men tỏi chứa hoạt chất allicin - một “kháng sinh tự nhiên”, giúp tăng sức đề kháng và hạn chế một số bệnh thường gặp ở vật nuôi. Việc sử dụng định kỳ có thể giúp người nuôi tiết kiệm tới 40% chi phí thuốc kháng sinh và hóa chất điều trị các bệnh phổ biến như tiêu chảy, tụ huyết trùng hay hen khẹt. Men tỏi bổ sung enzyme và vi khuẩn có lợi, giúp cân bằng hệ vi sinh đường ruột và tăng cường tiêu hóa. Điều này giúp vật nuôi hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn, giảm lượng thức ăn thừa thải ra môi trường. Gà và heo được bổ sung men tỏi thường ăn khỏe hơn, lớn đều và rút ngắn thời gian nuôi từ 10-15 ngày, giúp xoay vòng vốn nhanh. Việc hạn chế kháng sinh giúp sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn “thịt sạch”, dễ tiếp cận các thị trường khó tính hoặc bán trực tiếp cho người tiêu dùng với giá cao hơn. Heo ăn men tỏi thường có da hồng, lông mượt gà chắc thịt, mã đẹp, từ đó dễ bán và được thương lái trả giá cao hơn so với nuôi thông thường. Men tỏi không chỉ là xu hướng, mà đang dần trở thành một phần thiết yếu trong chiến lược phát triển chăn nuôi sinh học tại Việt Nam nói chung và tỉnh Lâm Đồng nói riêng. Với chi phí hợp lý, dễ áp dụng và mang lại nhiều lợi ích kinh tế lẫn môi trường, cần được nhân rộng trong các mô hình chăn nuôi hiện đại. Quỳnh Long - Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng
  • Nông dân người đồng bào dân tộc thiểu số làm giàu từ vườn cây ăn quả
    Nông dân người đồng bào dân tộc thiểu số làm giàu từ vườn cây ăn quả
    07/04/2026 09:01
    Xã Lương Sơn là địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) sinh sống. Với điều kiện tự nhiên đồi núi đan xen, đất đá nhiều, lượng mưa ít từng là thách thức cho cho người đồng bào DTTS trong sản xuất nông nghiệp và ổn định sinh kế. Tuy nhiên, với sự quan tâm của các cấp, ngành, địa phương áp dụng hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế người đồng bào DTTS như đầu tư đường giao thông, hệ thống thủy lợi… và chuyển đổi cây trồng phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng cũng như từng bước áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, nơi đây đã và đang phát triển trồng cây ăn quả là cây trồng chủ lực mang lại thu nhập chính và ổn định cho người dân. Đến với xã Lương Sơn những tháng đầu năm 2026, chúng tôi thấy nơi đây phủ kín màu xanh của những vườn cây ăn quả đang vào vụ thu hoạch như mít, xoài, điều… Ghé thăm vườn của anh Hoàng Văn Nhật - người dân tộc Nùng đang chăm sóc vườn xoài, vườn mít. Gia đình anh Nhật hiện có trên 6 ha đất vườn, trước đây chỉ trồng cây ngắn ngày như bắp, đậu, khoai, sắn là chủ yếu. Cách đây khoảng 10 năm, anh không rời khỏi quê đi làm công nhân như bao bạn bè khác mà anh mạnh dạn ở lại làm nông nghiệp. Ban đầu, anh trồng 03 ha xoài ghép Cát Hoà Lộc và một số cây ghép xoài Úc. Đây là những giống xoài có đặc tính như thịt trái nhiều, ngọt, thơm, vỏ dày phù hợp cho việc đóng gói vận chuyển hàng đi xa. Tháng ngày miệt mài chăm bón, cây và đất không phụ công người, sau gần 03 năm chăm sóc (làm cỏ, bón phân, tưới nước) kết hợp trồng xen cây ngắn ngày để cải thiện thu nhập, rồi cũng đến ngày cây xoài đơm hoa kết quả. Thế nhưng vụ xoài đầu tiên, giá bán không như ý, dễ gây nản lòng. Nhưng nghĩ đến những tháng ngày bỏ công chăm bón trước đây, anh Nhật hy vọng vào những vụ quả mùa sau có khởi sắc hơn. Dần dần giá bán hàng năm tăng lên đã tạo động lực cho anh đầu tư chăm sóc, áp dụng khoa học kỹ thuật như xiết nước, xiết vỏ thân ở gốc để kích thích xoài ra hoa theo ý muốn. Anh Hoàng Văn Nhật bên mô hình trồng mít ruột đỏ theo hướng hữu cơ Việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào canh tác đều được anh Nhật ghi chép rất cẩn thận để đúc rút kinh nghiệm qua từng năm chăm sóc, giúp cho vườn cây ngày càng đạt năng suất, chất lượng cao. Ngoài ra, anh còn đi học hỏi thêm nhiều nơi cách chăm sóc, tác động kỹ thuật để điều khiển cây ra hoa, làm quả từ các nhà vườn khác trong vùng. Từ đó, đúc rút kiến thức thực hành cho riêng mình để áp dụng vào sản xuất trên vườn cây của chính gia đình anh. Từ những đam mê nghề làm vườn kết hợp với sự ham học hỏi, tỷ mỉ trong việc chăm sóc mà vườn xoài của gia đình anh năm nào quả cũng sai nặng trĩu cành. Năm 2025, với diện tích 03 ha xoài Cát Hoà Lộc, xoài Úc. anh thu hoạch được 40 tấn quả, mang lại nguồn thu nhập 380 triệu đồng (giá bán tại vườn 9.500 đồng/kg), sau khi trừ chi phí sản xuất khoảng 100 triệu đồng, lợi nhuận anh thu được 280 triệu đồng/03 ha. Hiện tại, vườn xoài của anh đang ra hoa tượng quả cho vụ mới. Trong thời tiết thuận lợi, anh Nhật hi vọng vụ thu hoạch năm nay được giá mang lại nguồn thu nhập cao hơn năm cũ cho gia đình anh. Ngoài cây xoài, năm 2024 anh Nhật mạnh dạn trồng thêm 1 ha mít ruột đỏ (khoảng 500 cây). Hiện vườn mít đã bắt đầu cho thu bói, thương lái đến tận vườn thu mua với giá khoảng 44.000 đồng/kg. Đến nay, diện tích vườn cây ăn quả của gia đình cơ bản được phủ kín, gồm 3 ha xoài Cát Hòa Lộc, xoài Úc và 2 ha mít ruột đỏ trong đó 01 ha mít đang cho thu hoạch trái bói, 01 ha mới trồng năm thứ nhất. Anh Hoàng Văn Nhật cho biết: Nếu giá mít ruột đỏ duy trì giá như hiện tại, anh sẽ trồng thêm để có sản lượng đủ những chuyến xe cho thương lái vào tận vườn thu mua. Chính nhờ sự cần cù trong lao động mà câu nói của người xưa vẫn có ý nghĩa trong làm nông nghiệp: “Thứ nhất canh trì, thứ nhì canh viên, thứ ba canh điền”. Hiện nay, anh Nhật đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận VietGAP cho toàn bộ diện tích vườn xoài. Thời gian tới, khi cây mít cho thu hoạch ổn định anh làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận VietGAP cho vườn mít của mình. Nhờ nỗ lực lao động và niềm đam mê với nông nghiệp, nhiều hộ nông dân đồng bào dân tộc thiểu số đã vươn lên làm giàu ngay trên chính mảnh đất quê hương, góp phần nâng cao thu nhập và từng bước thay đổi tập quán sản xuất. Trong thời gian tới, để phát triển cây ăn quả vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cần tập trung sản xuất theo hướng nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, bên cạnh đó, là đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường tiêu thụ, hướng đến sản xuất bền vững. (Bà con nông dân có nhu cầu tham quan, học tập mô hình của anh Hoàng Văn Nhật ở xã Lương Sơn, tỉnh Lâm Đồng. Số điện thoại: 0386847557). Hồ Bình - Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng
  • Khi người trẻ làm nông bằng công nghệ
    Khi người trẻ làm nông bằng công nghệ
    25/03/2026 09:45
    Trong những năm gần đây, nhiều mô hình mới ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp được triển khai. Tại phường 3 Bảo Lộc, mô hình “Nông trại chăn nuôi dê khoa học, kết hợp giáo dục và kinh doanh” của anh Vũ Quang Chính, sinh năm 1994, đã trở thành điểm sáng trong Hội thi Sáng tạo kỹ thuật nhà nông tỉnh lần thứ 8 năm 2025. Anh Vũ Quang Chính (TDP 3, phường 3 Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng) vốn xuất thân từ gia đình nông dân, sớm gắn bó với nghề nuôi dê. Tuy nhiên, thay vì đi theo cách làm truyền thống, anh đã ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào từng công đoạn chăn nuôi. Từ thiết kế chuồng trại, lựa chọn con giống, đến quản lý dinh dưỡng và phòng bệnh - tất cả đều dựa trên cơ sở khoa học. Chuồng trại nuôi dê của trang trại được thiết kế thông thoáng, sàn cách mặt đất 1,5 m để dễ thu gom phân và hạn chế dịch bệnh. Ánh sáng tự nhiên được tận dụng tối đa, kết hợp đèn năng lượng mặt trời tiết kiệm chi phí. Hệ thống máng ăn, nước uống tự động giúp dê luôn có nguồn thức ăn, nước sạch, đồng thời giảm lãng phí. Đặc biệt, mỗi con dê được gắn thẻ tai nhận diện để theo dõi sức khỏe, quá trình sinh trưởng. Kết quả cho thấy hiệu quả rõ rệt, chi phí nhân công giảm 30 - 40%, tỷ lệ dê khỏe mạnh đạt trên 95%, sản lượng thịt tăng 20 - 30%. Không chỉ vậy, phân dê được xử lý bằng chế phẩm sinh học Trichoderma, trở thành nguồn phân bón hữu cơ, góp phần vào mô hình nông nghiệp tuần hoàn. Anh Chính chia sẻ: Năm 2017, anh bắt đầu chuyển đổi mô hình chuồng trại, con giống, anh đã sang Thái Lan và các mô hình khác học hỏi để về cải tiến và nâng cấp chuồng trại cho dê sinh sản, dê thịt, cách chăm sóc dê con, nguồn dinh dưỡng của cỏ cung cấp cho dê hợp lý nhằm giảm được chi phí nhân công, chi phí đầu tư để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Giống cỏ anh chọn là những giống: Ruzi, cỏ sả, VA06 và lá mít, cho ăn luân phiên các giống cỏ tránh tình trạng dê ngán và kích thích cho dê ăn tốt hơn, còn trong lá mít có vị chát giúp cho tiêu hóa, đường ruột của dê đào thải ra ngoài tốt hơn mà không bị các bệnh về đường ruột. Anh Vũ Quang Chính bên giống dê sinh sản Điểm đặc biệt khiến mô hình của anh Chính nổi bật chính là sự kết hợp đa giá trị. Ngoài chăn nuôi, trang trại còn liên kết với các trường Đại học, Cao đẳng để tổ chức thực hành, thực tập cho sinh viên ngành chăn nuôi. Nhiều lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật nuôi dê cũng được tổ chức, tạo điều kiện để bà con nông dân tiếp cận phương pháp mới. Song song đó, mô hình du lịch trải nghiệm được triển khai: Du khách đến tham quan có thể trực tiếp cho dê ăn, tìm hiểu cách phối trộn thức ăn và thưởng thức các món ăn chế biến từ dê ngay tại trang trại. Điều này không chỉ quảng bá thương hiệu mà còn mở thêm hướng phát triển kinh tế từ nông nghiệp gắn với du lịch sinh thái. Không chỉ dừng ở chăn nuôi cá thể, từ một trại dê ban đầu anh Chính đã xây dựng liên kết gồm 9 trại dê, đặc biệt toàn bộ đều là các nông dân trẻ thế hệ 9X. Nông dân tham gia liên kết sẽ được cung cấp con giống, hướng dẫn kỹ thuật xây dựng chuồng trại, cách chăm sóc, phòng bệnh và bao tiêu sản phẩm. Nhờ vậy, các hộ nuôi liên kết đều giảm hao hụt, bảo đảm chất lượng đàn dê. Với những hộ ít vốn, hình thức nhận dê giống về nuôi rồi chia lợi nhuận là giải pháp hiệu quả. Anh Nguyễn Hoàng Duy ở phường 3 Bảo Lộc - một trong những đối tác chia sẻ: Muốn chăn nuôi dê đạt hiệu quả kinh tế cao, người nuôi cần chuẩn bị 5 yếu tố: Đầu tiên là kinh tế - làm chuồng trại và mua con giống đều phải cần đến tiền thứ hai là đất đai - dê là loài động vật ăn cỏ, chủ động được nguồn cỏ sẽ không bị cạnh tranh thị trường thứ ba - chuồng trại, làm bài bản, khoa học sẽ tiết kiệm được công sức của người chăm sóc thứ tư - con giống, lựa chọn con giống có chất lượng, năng suất rất quan trọng cuối cùng là con người, người nuôi cần nắm được quy trình kỹ thuật chăm sóc vật nuôi để cho năng suất, chất lượng tốt nhất. Từ thực tế triển khai mô hình đã chứng minh được tính khả thi và khả năng nhân rộng. Anh Chính kỳ vọng sẽ có thêm nhiều trang trại trẻ ứng dụng công nghệ tương tự, hình thành chuỗi cung ứng thịt dê sạch, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong và ngoài nước. Ông Nguyễn Minh Toàn - Chủ tịch Hội Nông dân phường 3 Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng đánh giá: Đây là mô hình của một bạn trẻ rất năng động, sáng tạo, từ khâu chăn nuôi, chuẩn bị chuồng trại cho đến việc liên kết với các đối tác, là một mô hình khép kín đạt chuẩn cần được tuyên truyền, nhân rộng trong thời gian tới. Có thể nói, “Nông trại chăn nuôi dê khoa học, kết hợp giáo dục và kinh doanh” không những là một giải pháp mới mang lại hiệu quả kinh tế cao, mà còn là câu chuyện khởi nghiệp truyền cảm hứng cho nhiều bạn trẻ yêu nông nghiệp, đặc biệt là trong ngành chăn nuôi tại địa phương trong thời gian tới. Bùi Quang Ngọc - Trung tâm DVTH phường 3 Bảo Lộc
  • Người khuyến nông tiên phong đưa công nghệ cao vào sản xuất
    Người khuyến nông tiên phong đưa công nghệ cao vào sản xuất
    24/03/2026 09:04
    Khi nhắc đến anh Nguyễn Đình Mẫu, thôn Thiện Chí, xã Ninh Gia, nhiều người dân trong vùng đều biết đến anh như một khuyến nông viên tận tụy, nhiệt tình hỗ trợ và chia sẻ kỹ thuật sản xuất cho bà con. Không chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn, tuyên truyền, anh còn mạnh dạn áp dụng những kiến thức đã được tích lũy vào chính mảnh đất của gia đình mình. Với tinh thần dám nghĩ, dám làm, anh trở thành một trong những người tiên phong tại địa phương chuyển đổi từ sản xuất truyền thống sang sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt và tạo sức lan tỏa tại địa phương. Trước đây, gia đình anh Mẫu sở hữu 2,7 ha đất sản xuất nông nghiệp, chủ yếu trồng cây cà phê, hồ tiêu và cây dâu tằm - những loại cây trồng quen thuộc của địa phương. Tuy nhiên, sản xuất vẫn phụ thuộc lớn vào biến động của thị trường. Giá nông sản biến động liên tục khiến thu nhập của gia đình anh không ổn định, nhiều lúc rơi vào cảnh “được mùa mất giá”. Điều này buộc anh phải tìm hướng đi mới, vừa mang lại kết quả khả quan, vừa bền vững cho sản xuất nông nghiệp. Trong thời gian làm việc trong hệ thống khuyến nông, anh được tham gia nhiều lớp đào tạo, tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp. Đồng thời, anh còn có cơ hội tham quan, học tập nhiều mô hình sản xuất hiệu quả trong và ngoài tỉnh. Chính những trải nghiệm thực tế đó đã thôi thúc anh tìm kiếm một hướng đi mới - một hướng sản xuất nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, ổn định hơn và phù hợp với xu hướng sản xuất hiện đại. Nghĩ là làm, anh Mẫu bắt đầu hành trình đi nhiều nơi để tìm hiểu và tích lũy kinh nghiệm. Trong những chuyến tham quan các mô hình sản xuất trong nhà lưới, nhà kính anh nhận ra nông nghiệp công nghệ cao không chỉ giúp hạn chế đáng kể tác động bất lợi của khí hậu, thời tiết mà còn nâng cao chất lượng và giá trị nông sản. Ý tưởng táo bạo ấy ban đầu khiến nhiều người xung quanh hoài nghi, không ít bạn bè, người thân ngăn cản. Thế nhưng, anh vẫn kiên định với lựa chọn của mình. Sau khi thuyết phục vợ đồng hành, hai vợ chồng chủ động đến nhiều mô hình nhà kính tại Đơn Dương, Bảo Lộc và Đà Lạt để học hỏi kinh nghiệm thực tế, từng bước tích lũy kiến thức và kỹ năng cho hướng đi mới. Sau một thời gian kiên trì học hỏi và tích lũy kinh nghiệm thực tế, năm 2018, anh Mẫu quyết định thực hiện bước chuyển đổi quan trọng, từ nguồn vốn vay mượn của người thân, anh đầu tư gần 250 triệu đồng để chuyển đổi 1.000 m2 đất trồng dâu tằm kém hiệu quả sang xây dựng nhà kính trồng dưa lưới. Trong nhà kính, anh lắp đặt hệ thống tưới nhỏ giọt tự động, sử dụng giá thể trồng và trang bị các thiết bị cần thiết nhằm kiểm soát tốt điều kiện sinh trưởng, phát triển cho các loại cây trồng. Nhờ kiên trì tìm tòi, áp dụng đúng quy trình kỹ thuật và không ngừng rút kinh nghiệm, mô hình trồng dưa lưới của anh Mẫu nhanh chóng cho kết quả tích cực. Những năm đầu, mỗi năm anh canh tác 3 vụ dưa lưới, năng suất đạt khoảng 3,5 tấn/năm. Với giá bán trung bình khoảng 25.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí sản xuất, lợi nhuận mang lại cho gia đình anh khoảng 140 - 150 triệu đồng/năm. Nhờ doanh nghiệp thu mua trực tiếp tại vườn, đầu ra sản phẩm được đảm bảo ổn định, giúp gia đình anh yên tâm đầu tư sản xuất. Anh Nguyễn Đình Mẫu đang kiểm tra, chăm sóc vườn cà chua chuẩn bị cho thu hoạch Nhận thấy hiệu quả kinh tế rõ rệt từ mô hình này, anh tiếp tục mạnh dạn mở rộng thêm 1.000 m² nhà kính để phát triển sản xuất, qua đó mang lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình qua từng năm. Tuy nhiên, đến năm 2020, khi dịch bệnh COVID-19 bùng phát, đã khiến việc tiêu thụ và thị trường gặp nhiều khó khăn. Không nản chí trước khó khăn, anh Mẫu chủ động điều chỉnh phương thức sản xuất, chuyển sang trồng gối vụ và luân canh nhiều loại rau như cà chua, dưa leo baby, bí Nhật,… trong đó cà chua được xác định là cây trồng chủ lực. Cách làm này không chỉ giúp hạn chế sâu bệnh hại mà còn linh hoạt đáp ứng nhu cầu của thị trường, góp phần đảm bảo đầu ra cho sản phẩm và duy trì nguồn thu nhập ổn định cho gia đình trong giai đoạn nhiều biến động. Anh lựa chọn giống cà chua Rita để đưa vào sản xuất, theo anh đây là giống cà chua có sức sinh trưởng khỏe và khả năng đậu trái ổn định. Bên cạnh đó, nhờ áp dụng đồng bộ các kỹ thuật chăm sóc và quản lý môi trường trồng trọt trong nhà kính, mô hình sản xuất của anh Mẫu ngày càng phát huy hiệu quả, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình. Anh Nguyễn Đình Mẫu (áo xanh) đang trao đổi, chia sẻ với anh Ha Nan Tha My - Chủ tịch Hội Nông dân xã Ninh Gia về mô hình trồng cà chua giống Rita Với diện tích 2.000 m2 cà chua trồng trong nhà lưới, một năm anh trồng 2 vụ, thu hoạch trên 18 tấn quả/năm. Nhờ được trồng trong môi trường kiểm soát, cà chua cho trái to, đồng đều, màu sắc đẹp và vỏ căng bóng. Đặc biệt, việc hạn chế tối đa sử dụng thuốc bảo vệ thực vật giúp sản phẩm đảm bảo an toàn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Nhờ chất lượng vượt trội, cà chua của anh luôn được thương lái thu mua trực tiếp tại vườn với giá trung bình khoảng 10.000 - 12.000 đồng/kg, có những thời điểm lên đến 20.000 - 22.000 đồng/kg tùy theo nhu cầu thị trường. Sau khi trừ chi phí sản xuất, mỗi năm gia đình anh thu lãi khoảng 250 triệu đồng. Không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của gia đình anh Mẫu còn cho thấy sự chủ động, sáng tạo trong thiết kế và quản lý sản xuất. Ngay từ khi xây dựng, anh đã tính toán thiết kế phần lưới che xung quanh nhà kính có thể nâng lên linh hoạt, vừa thuận tiện cho việc vệ sinh vườn, vừa giúp nước thoát nhanh khi mưa lớn. Bên cạnh đó, anh không phủ bạt nông nghiệp toàn bộ mặt vườn như nhiều nơi khác mà chỉ phủ trên các luống đặt giá thể. Cách làm này giúp bề mặt đất thông thoáng, nước mưa dễ dàng thấm và thoát ra ngoài, đồng thời hạn chế tình trạng ứ đọng nước, qua đó giảm nguy cơ phát sinh sâu bệnh trên cây trồng. Do đó, trong đợt mưa lớn kéo dài trong năm 2025 khu vườn nhà kính của anh chỉ bị ảnh hưởng nhẹ, nước thoát nhanh, trong khi các vườn trong khu vực bị ngập úng và ảnh hưởng khá nặng. Từ một khuyến nông viên tận tâm đến người nông dân tiên phong trong ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, hành trình của anh Mẫu là minh chứng cho tinh thần dám nghĩ, dám làm và khát vọng đổi mới trong nông nghiệp. Thành công của anh không chỉ giúp nâng cao thu nhập cho gia đình mà còn góp phần mở ra hướng đi bền vững cho sản xuất nông nghiệp tại địa phương. Ngọc Ánh - Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng
  • Trồng nấm mèo: Giải pháp nâng cao thu nhập cho nhà nông
    Trồng nấm mèo: Giải pháp nâng cao thu nhập cho nhà nông
    26/02/2026 11:03
    Làng trồng nấm mèo tại xã Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng hình thành từ những năm 1990, qua nhiều năm phát triển đã trở thành nghề quen thuộc, gắn bó mật thiết với đời sống, sinh kế của nhiều hộ dân địa phương. Nhờ khí hậu mát mẻ, độ ẩm cao và thời tiết ổn định, nơi đây có điều kiện thuận lợi để trồng và phát triển nấm mèo quanh năm. Trong số những hộ gắn bó lâu năm với nghề, gia đình bà Nguyễn Thị Tạo (trú tại Tổ dân phố 22, xã Đức Trọng) là một điển hình tiêu biểu được bà con trong vùng biết đến bởi kinh nghiệm và sự bền bỉ với nghề. Những ngày đầu khởi nghiệp, bà gặp không ít khó khăn như thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm, đầu ra sản phẩm chưa ổn định. Tuy nhiên, với tinh thần cần cù, ham học hỏi và không ngừng nghiên cứu, bà từng bước khắc phục trở ngại, rút kinh nghiệm qua từng vụ sản xuất để nâng cao năng suất và chất lượng. Nhờ sự kiên trì, mô hình trồng nấm mèo của gia đình bà Tạo ngày càng phát triển. Từ quy mô nhỏ lẻ ban đầu, đến nay bà đã xây dựng hệ thống nhà trồng nấm rộng khoảng 3.000 m² đạt chứng nhận VietGAP, được đầu tư bài bản và áp dụng quy trình kỹ thuật phù hợp, đảm bảo điều kiện sinh trưởng tốt cho nấm mèo. Một nhà nấm với diện tích khoảng 200 m2 trồng được 10 thiên (01 thiên tương đương 1.000 phôi nấm). Với giá bán nấm mèo khô trên thị trường dao động khoảng 140.000 đồng/kg đối với nấm loại 01 và 120.000 - 130.000 đồng/kg đối với nấm loại 02, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình và các hộ liên kết. Thời gian tính từ lúc treo phôi nấm lên giàn cho đến thu hoạch kéo dài khoảng 2,5 tháng, chất lượng phôi nấm đạt yêu cầu, không bị hỏng và điều kiện thời tiết thích hợp thu được 3,5 - 4 tạ nấm khô/200m2/vụ, mang lại doanh thu từ 40 - 50 triệu đồng. Mỗi năm sản xuất được 03 vụ, với diện tích 3.000 m² đất trồng nấm (trừ sân phơi, khoảng cách giữa các nhà nấm,…), sau khi trừ các khoản chi phí như phôi giống nấm, công lao động, khấu hao nhà nấm và các khoản chi phí sản xuất trực tiếp, bình quân mỗi năm gia đình bà Tạo thu lợi nhuận ổn định khoảng 280 - 300 triệu đồng/năm, giúp người trồng nấm chủ động kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Sau khi kết thúc vụ nấm mèo, xác phôi nấm và túi ni lông bao bên ngoài phôi nấm được bán lại để xử lý và tái sử dụng cho trồng nấm bào ngư, giúp xử lý vấn đề phụ phế phẩm nông nghiệp. Sản phẩm nấm mèo của gia đình bà Tạo được thị trường tin dùng nhờ chất lượng ổn định, sạch và an toàn. Bà Tạo (áo xanh bên phải ngoài cùng) xếp nấm lên giàn phơi Theo bà Tạo, kỹ thuật trồng và chăm sóc nấm mèo nhìn chung không quá phức tạp, chỉ cần chú trọng giữ gìn vệ sinh nhà nấm, xử lý kỹ nhà nấm sau mỗi vụ trồng, nguồn nước và môi trường sản xuất sạch nấm mèo sẽ phát triển ổn định, cho năng suất và chất lượng cao. Tuy nhiên, sau khi thu hoạch và chế biến thành phẩm, sản phẩm nấm mèo trong nước vẫn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ nấm nhập khẩu, đặc biệt là nấm Trung Quốc có giá thành rẻ hơn. Bao bì đóng gói ngày càng tương tự sản phẩm trong nước cũng gây khó khăn trong việc phân biệt nguồn gốc. Trước thực tế đó, các hộ trồng nấm tại địa phương không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, chú trọng xây dựng uy tín và thương hiệu, từng bước khẳng định vị thế trên thị trường, góp phần phát triển nghề trồng nấm mèo theo hướng bền vững. Không chỉ tập trung phát triển kinh tế gia đình, bà Tạo còn tích cực chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ kỹ thuật cho bà con trong vùng. Hiện bà liên kết với 05 hộ dân để cùng phát triển nghề trồng nấm mèo, các hộ được hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ giống, vật tư, trao đổi kinh nghiệm sản xuất và liên kết tiêu thụ sản phẩm. Thông qua mô hình liên kết trồng nấm do bà Tạo khởi xướng không chỉ giúp nhiều hộ cải thiện thu nhập, ổn định đời sống mà còn tạo việc làm thường xuyên cho lao động nông thôn, đặc biệt là phụ nữ và lao động trung niên, góp phần hạn chế tình trạng đi làm ăn xa. Qua đó, đời sống kinh tế - xã hội tại địa phương từng bước được nâng cao, đóng góp tích cực vào quá trình xây dựng nông thôn ngày càng phát triển. Câu chuyện làm kinh tế của bà Tạo là minh chứng sinh động cho tinh thần dám nghĩ, dám làm, vượt khó vươn lên của người nông dân xã Đức Trọng trong thời kỳ đổi mới. Trúc Quỳnh - Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng
  • Mô hình trồng dâu nuôi tằm - Sinh kế hiệu quả từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững
    Mô hình trồng dâu nuôi tằm - Sinh kế hiệu quả từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững
    27/01/2026 10:52
    Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, trong những năm qua, các cấp, các ngành đã tập trung triển khai nhiều mô hình hỗ trợ sinh kế theo hướng thiết thực, phù hợp với điều kiện sản xuất của người dân, đặc biệt là các hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn. Thay vì hỗ trợ dàn trải, chương trình chú trọng hỗ trợ có trọng tâm, tạo “đòn bẩy” ban đầu để người dân phát huy nội lực, chủ động tổ chức sản xuất và từng bước nâng cao thu nhập. Trong khuôn khổ đó, mô hình trồng dâu nuôi tằm lấy kén tại xã Quảng Sơn là một trong những mô hình sinh kế được lựa chọn triển khai, bước đầu cho thấy tính phù hợp với điều kiện sản xuất thực tiễn của địa phương, mang lại hiệu quả thiết thực và đáp ứng đúng nhu cầu của các hộ tham gia. Thông qua Chương trình, các hộ được hỗ trợ một phần dụng cụ nuôi tằm như nong nuôi và né làm kén, qua đó góp phần giảm chi phí đầu tư ban đầu, tạo động lực để người dân mạnh dạn tiếp cận mô hình và tổ chức sản xuất theo hướng bài bản, tuân thủ quy trình kỹ thuật. Trên cơ sở hỗ trợ ban đầu đó, các hộ chủ động bố trí đất trồng dâu, đầu tư con giống và chuẩn bị các điều kiện cần thiết khác, từng bước hình thành sinh kế ổn định, lâu dài. Sự lựa chọn mô hình trồng dâu nuôi tằm tại xã Quảng Sơn, tỉnh Lâm Đồng xuất phát từ điều kiện sản xuất thực tế của địa phương. Quảng Sơn là xã thuần nông, đời sống người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp trong đó vẫn còn một bộ phận hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo có diện tích đất canh tác hạn chế, sinh kế chủ yếu dựa vào lao động làm thuê, canh tác cà phê quy mô nhỏ với năng suất thấp hoặc một số cây trồng truyền thống khác nhưng hiệu quả kinh tế chưa cao, thu nhập còn bấp bênh. Trong bối cảnh quỹ đất sản xuất không lớn, nguồn vốn đầu tư hạn chế, việc lựa chọn mô hình sinh kế có khả năng quay vòng vốn nhanh, phù hợp với điều kiện của nông hộ là yêu cầu đặt ra đối với địa phương. Mô hình trồng dâu nuôi tằm tại xã Quảng Sơn được triển khai với quy mô 10 hộ tham gia. Diện tích trồng dâu của các hộ không lớn, hộ có diện tích nhiều nhất khoảng 0,5 ha. Các hộ tổ chức nuôi tằm theo hình thức gối vụ liên tục quanh năm mỗi lứa nuôi kéo dài khoảng 20 ngày. Trung bình mỗi lứa sử dụng từ 01 - 1,5 hộp tằm giống. Nhờ tuân thủ tốt quy trình kỹ thuật chăm sóc, vệ sinh chuồng trại và chủ động phòng trừ dịch bệnh, năng suất kén đạt từ 80 - 120 kg/lứa tùy theo quy mô và điều kiện chăm sóc của từng hộ, đảm bảo sản lượng ổn định qua các lứa nuôi. Bên cạnh việc áp dụng đúng quy trình kỹ thuật, các hộ trong mô hình còn linh hoạt thực hiện hình thức nuôi tằm trên nong kết hợp nuôi nền nhà, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của từng gia đình. Ở giai đoạn tằm nhỏ, tằm được nuôi trên nong đặt trên giàn, thuận tiện cho việc chăm sóc và theo dõi sinh trưởng. Khi tằm bước vào giai đoạn lớn, nhu cầu ăn lá tăng cao, các hộ tận dụng nền nhà được vệ sinh sạch sẽ, rải vôi bột khử trùng để mở rộng không gian nuôi, giúp tằm phát triển đồng đều, hạn chế hiện tượng dập, nóng tằm. Hình thức nuôi kết hợp này có ưu điểm là giảm chi phí đầu tư ban đầu, tận dụng hiệu quả diện tích nhà ở sẵn có nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu kỹ thuật nếu thực hiện tốt khâu vệ sinh, thông thoáng và kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm. Thực tế cho thấy, phương thức nuôi này không làm giảm năng suất kén mà giúp các hộ chủ động điều chỉnh quy mô nuôi theo điều kiện cụ thể của gia đình. Tằm tuổi 3 được nuôi trên nong để chăm sóc và theo dõi sinh trưởng Với giá kén tằm trên thị trường hiện nay dao động từ 200.000 - 230.000 đồng/kg, mỗi lứa nuôi cho doanh thu từ 18 - 27 triệu đồng, bình quân khoảng 23 triệu đồng/lứa. Chi phí sản xuất chủ yếu là tiền mua tằm giống, một số vật tư như vôi, thuốc sát trùng và điện nước, công chăm sóc… tổng chi phí khoảng 5 - 7 triệu đồng/lứa. Sau khi trừ hết mọi chi phí, mỗi lứa nuôi cho lợi nhuận từ 12 - 20 triệu đồng, bình quân khoảng 17 triệu đồng trong vòng 20 ngày. So với các mô hình sản xuất nông nghiệp truyền thống tại địa phương, mô hình trồng dâu nuôi tằm cho hiệu quả kinh tế vượt trội. Nếu cùng trên diện tích vài sào đất, các cây trồng như lúa, bắp hoặc mì thường chỉ mang lại thu nhập vài chục triệu đồng mỗi năm và phụ thuộc nhiều vào thời tiết, thị trường. Trong khi đó, nuôi tằm cho thu nhập ổn định theo từng lứa, quay vòng vốn nhanh và ít rủi ro. Theo chu kỳ sản xuất, mỗi năm người dân nuôi từ 09 - 10 lứa tằm, với quy mô hiện tại, mô hình mang lại lợi nhuận khoảng 150 - 170 triệu đồng/năm/hộ góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho các hộ tham gia. Mô hình được triển khai từ tháng 11/2023 do UBND xã Quảng Sơn triển khai thực hiện và duy trì ổn định cho đến nay, cho thấy tính bền vững và khả năng thích ứng tốt với điều kiện sản xuất tại địa phương. Bên cạnh hiệu quả kinh tế, mô hình còn mang lại ý nghĩa xã hội thiết thực, tạo việc làm thường xuyên tại chỗ, góp phần nâng cao thu nhập cho các hộ nghèo, cận nghèo tham gia mô hình. Quá trình nuôi tằm chủ yếu tận dụng thời gian lao động nhàn rỗi trong gia đình, không đòi hỏi nhiều công lao động nặng nhọc, phù hợp với điều kiện sinh hoạt của nông hộ. Thông qua mô hình, người dân từng bước thay đổi tư duy sản xuất, từ trông chờ hỗ trợ sang chủ động tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế hộ gia đình. Tiêu biểu có hộ ông Lê Sỹ Cảnh, một trong những hộ tham gia mô hình từ những ngày đầu. Sau khi được hỗ trợ nong nuôi và hướng dẫn kỹ thuật, ông đã mạnh dạn đầu tư trồng dâu, tổ chức nuôi tằm đúng quy trình. Qua các lứa nuôi, năng suất kén duy trì ổn định, thu nhập của gia đình ông từng bước tăng lên. Ông Cảnh cho biết, từ khi gắn bó với nghề nuôi tằm, gia đình có nguồn thu thường xuyên theo từng lứa nuôi, chủ động hơn trong chi tiêu sinh hoạt và tái đầu tư sản xuất. Nhờ đó, đời sống kinh tế của gia đình ngày càng ổn định, tạo nền tảng vững chắc để từng bước vươn lên thoát nghèo. Ông Lê Sỹ Cảnh chăm sóc tằm ở giai đoạn sinh trưởng mạnh (tằm tuổi 4) Từ hiệu quả thực tế, mô hình trồng dâu nuôi tằm tại xã Quảng Sơn đang được người dân trong và ngoài xã quan tâm học hỏi. Sự hỗ trợ ban đầu từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo đã tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực, khuyến khích nhiều hộ mạnh dạn tham gia. Qua đó có thể khẳng định, mô hình trồng dâu nuôi tằm là mô hình sinh kế phù hợp với nông hộ có diện tích đất nhỏ, nhu cầu tạo thu nhập quay vòng nhanh, cần tiếp tục được quan tâm, hỗ trợ và nhân rộng trong thời gian tới. Nguyễn Thị Thắm - Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng
  • Đánh thức tiềm năng dược liệu dưới tán rừng Tà Đùng: Mô hình trồng nấm Linh chi đỏ mang lại hiệu quả kinh tế cao
    Đánh thức tiềm năng dược liệu dưới tán rừng Tà Đùng: Mô hình trồng nấm Linh chi đỏ mang lại hiệu quả kinh tế cao
    26/01/2026 11:08
    Vườn Quốc gia Tà Đùng không chỉ là “lá phổi xanh” với hệ sinh thái đa dạng mà còn ẩn chứa kho tàng dược liệu quý giá. Tận dụng lợi thế này, mô hình trồng nấm Linh chi đỏ dưới tán tre tại bon B’Nơr (xã Tà Đùng) đang mở ra hướng đi mới, giúp người dân địa phương phát triển kinh tế bền vững.
  • Nâng cao thu nhập nhờ mạnh dạn chuyển đổi cây trồng, vật nuôi mới ở vùng đặc biệt khó khăn
    Nâng cao thu nhập nhờ mạnh dạn chuyển đổi cây trồng, vật nuôi mới ở vùng đặc biệt khó khăn
    22/01/2026 08:45
    Xã Đam Rông 2, tỉnh Lâm Đồng có diện tích tự nhiên 365 km2, với dân số trên 16.000 người, trong đó gần 70% là đồng bào dân tộc thiểu số. Tỷ lệ hộ nghèo trên 8%; kinh tế của xã chủ yếu là nông nghiệp, với cây trồng chủ lực là cà phê, nhiều diện tích già cỗi, cho năng suất, thu nhập còn thấp. Do đó, việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi là rất cấp thiết. Nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện đời sống người dân và phát triển nông nghiệp bền vững, bà con nông dân ở xã Đam Rông 2 đã mạnh dạn chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi mới mang lại hiệu quả kinh tế cao.
  • Hiệu quả từ liên kết sản xuất nông nghiệp hữu cơ của Hợp tác xã Nông nghiệp Đoàn Kết
    Hiệu quả từ liên kết sản xuất nông nghiệp hữu cơ của Hợp tác xã Nông nghiệp Đoàn Kết
    15/01/2026 14:52
    Hợp tác xã Nông nghiệp Đoàn Kết (HTX) tại thôn 9, xã Đức An, tỉnh Lâm Đồng được thành lập ngày 05/11/2014, ban đầu có 25 thành viên chính thức, do ông Lưu Như Bính, sinh năm 1968 làm Giám đốc. Với diện tích đất sản xuất nông nghiệp ban đầu của HTX là 75 ha, trong đó cà phê có 70 ha, sản lượng khoảng 200 tấn/năm hồ tiêu 05 ha, sản lượng khoảng 20 tấn/năm. Khi mới thành lập đi vào sản xuất, HTX gặp nhiều khó khăn như thiếu vốn, kỹ thuật canh tác,... trong đó khó khăn lớn nhất là tập quán canh tác của nông dân, sản xuất theo hướng truyền thống, chạy theo năng suất, sản lượng, lạm dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt cỏ... Điều này đã làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe người lao động, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản xuất khẩu. Ngoài ra, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa sản xuất hàng hóa và tiêu thụ sản phẩm, do đó hiệu quả kinh tế chưa cao. Trước những khó khăn thách thức kể trên, đầu năm 2017 Ban Quản trị HTX đã chủ động, tiên phong tìm hiểu, học hỏi từ các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, đồng thời được sự hỗ trợ tích cực từ phía các cơ quan ban ngành của tỉnh và địa phương, HTX đã mạnh dạn chuyển đổi từ phương thức sản xuất nông nghiệp truyền thống sang sản xuất nông nghiệp hữu cơ bền vững, áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trong quản lý dịch hại cây trồng ưu tiên lựa chọn các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hữu cơ, sinh học trong phòng trừ dịch hại sử dụng máy phát cỏ quản lý cỏ dại, tạo môi trường sinh thái bền vững trên đồng ruộng. Hạn chế tối đa sử dụng các chất hóa học độc hại trong quá trình canh tác. Qua 02 năm áp dụng các biện pháp canh tác hữu cơ, đến năm 2019 HTX đã cho ra thị trường dòng sản phẩm cà phê sạch, hữu cơ chất lượng cao. Đến năm 2023, HTX đã có 05 thành viên sản xuất hồ tiêu đạt chứng nhận hữu cơ với diện tích 11,4 ha, sản lượng 42 tấn, bán với giá cộng thưởng 25% so với giá thị trường. Để đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm xuất khẩu, HTX đã đầu tư xây dựng hệ thống nhà kính phơi, chế biến cà phê Honey trên giàn trong nhà màng với quy mô khoảng 1.000m2, sử dụng hệ thống nhà máy rang xay, đóng gói hiện đại, sản xuất cà phê hạt rang và cà phê bột mang nhãn hiệu “Cà phê Rừng lạnh” với sản lượng khoảng 50 - 100 tấn/năm. Vườn hồ tiêu đạt chứng nhận hữu cơ của HTX Nông nghiệp Đoàn Kết Các sản phẩm của HTX Nông nghiệp Đoàn Kết luôn đảm bảo về chất lượng và an toàn thực phẩm được nhiều người ưa chuộng, chiếm thị phần lớn tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Trong những năm qua, HTX không ngừng phát triển, từ 25 thành viên ban đầu đến nay đã có 75 thành viên chính thức và 60 thành viên liên kết với diện tích đạt 450 ha. Trong đó: Diện tích cà phê là 300 ha, sản lượng khoảng 900 tấn/năm với 17 thành viên đã đạt chứng nhận cà phê hữu cơ (diện tích 31,3 ha, sản lượng đạt 107 tấn) Chứng nhận cà phê 4C (diện tích 101 ha, sản lượng đạt 300 tấn) Cà phê chất lượng cao (đạt 50 tấn). Diện tích hồ tiêu đạt chứng nhận RA - Tiêu chuẩn nông nghiệp bền vững là 150 ha, sản lượng đạt 450 tấn/năm (Hồ tiêu đạt chứng nhận hữu cơ ORGANIC USDA - NOP là 42,2 ha, sản lượng đạt 150 tấn/năm, với 22 thành viên tham gia). Tổng doanh thu hồ tiêu và cà phê năm 2024 đạt 186 tỷ đồng. Để tiếp tục nâng cao kiến thức về kỹ năng liên kết, hướng dẫn từ khâu sản xuất đến thu hoạch chế biến cà phê và hồ tiêu cho các thành viên trong HTX, năm 2025 HTX đã tổ chức được 07 lớp tập huấn (hồ tiêu 04 lớp, cà phê 03 lớp) phối hợp với Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng hỗ trợ xây dựng và thực hiện mô hình sản xuất cà phê theo hướng hữu cơ với 26 ha (26 hộ sản xuất tham gia). Qua đó, đã góp phần nâng cao kiến thức về lý thuyết cũng như thực hành trên đồng ruộng sản xuất cà phê cho các thành viên của HTX. Nhờ nỗ lực trong điều hành, áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ, các sản phẩm của HTX Đoàn Kết luôn đạt các tiêu chuẩn về chất lượng. HTX đã trở thành đơn vị chuyên cung cấp nguyên liệu cà phê nhân xô, cà phê chất lượng cao cho thị trường trong và ngoài tỉnh như: Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Đắk Lắk,... và đặc biệt, HTX được Công ty Chế biến Gia vị NEDSPICE Việt Nam chọn làm đối tác phát triển sản xuất hồ tiêu hữu cơ, đảm bảo đầu ra ổn định với giá cao. Ngoài tập trung sản xuất, nâng cao thu nhập cho các thành viên của HTX, HTX Đoàn Kết luôn quan tâm, chia sẻ thực hiện các hoạt động an sinh xã hội như: Ủng hộ nhân dân vùng lũ ở miền Bắc quà Tết cho hộ nghèo tài trợ cho các giải thể thao tại địa phương và ủng hộ xây dựng cơ sở vật chất, sân vận động, khu thể thao tại địa bàn dân cư. Hàng năm, HTX chi quỹ để đóng Bảo hiểm xã hội cho Ban Quản trị HTX gồm 07 thành viên với số tiền trên 25 triệu đồng. Đặc biệt, đã hơn 10 năm nay, các thành viên trong Ban Giám đốc, Hội đồng quản trị chỉ hoạt động và phục vụ cho HTX chứ không nhận lương, phụ cấp. Nhờ hoạt động có hiệu quả, đời sống và thu nhập của các thành viên trong HTX ngày càng tăng cao, điều đó đã thu hút số lượng các thành viên tham gia ngày càng đông và diện tích cây trồng được sản xuất theo hướng hữu cơ bền vững ngày càng gia tăng. Trong những năm qua, nhờ kiên trì áp dụng sản xuất hữu cơ, tuần hoàn nên sản phẩm của HTX luôn đạt chất lượng về tiêu chuẩn xuất khẩu, được ghi nhận ở một số kết quả sau: Sản phẩm Cà phê bột Rừng Lạnh và Hạt tiêu đen Rừng Lạnh đã được UBND tỉnh công nhận sản phẩm OCOP 3 sao Sản phẩm hồ tiêu được Công ty chế biến gia vị NEDSPICE Việt Nam chọn làm đối tác phát triển hồ tiêu hữu cơ Diện tích sản xuất của HTX được nằm trong vùng sản xuất đã được cấp chứng nhận vùng sản xuất cà phê ứng dụng công nghệ cao UBND tỉnh tặng Bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước giữa các cụm, khối thi đua năm 2022 và thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua xây dựng Hợp tác xã, Quỹ tín dụng Nhân dân điển hình tiên tiến giai đoạn 2021 - 2023 Tặng cờ thi đua đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua năm 2023,… Trong những năm tiếp theo, HTX tiếp tục chú trọng áp dụng sản xuất nông nghiệp bền vững, phát triển thêm diện tích Hồ tiêu và Cà phê hữu cơ nhằm mang lại cho môi trường xanh, sạch, giảm phát thải khí nhà kính, tạo nên sản phẩm chất lượng, có giá trị kinh tế cao phục vụ xuất khẩu, nâng cao đời sống nông dân. Ngoài ra, mô hình sản xuất của HTX còn là địa chỉ để rất nhiều đoàn công tác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh tham quan học tập kinh nghiệm. Nguyễn Thị Thảo - TTKN tỉnh Lâm Đồng
  • Xây dựng mô hình sản xuất khoai tây nguyên liệu mang lại hiệu quả cao tại vùng Tây Nguyên
    Xây dựng mô hình sản xuất khoai tây nguyên liệu mang lại hiệu quả cao tại vùng Tây Nguyên
    03/01/2026 09:11
    Tây Nguyên là vùng sản xuất khoai tây quan trọng thứ 2 của cả nước (sau vùng đồng bằng Sông Hồng), với điều kiện khí hậu thuận lợi, tại đây khoai tây có thể được tổ chức sản xuất quanh năm, đặc biệt là tại Lâm Đồng. Diện tích sản xuất khoai tây vùng Tây Nguyên trong những năm gần đây dao động từ khoảng 2.500 - 3.000 ha, năng suất trung bình đạt từ 18 - 20 tấn. Tuy nhiên, thời vụ sản xuất chính vẫn là vụ Đông Xuân và Xuân (chiếm khoảng 70 - 80% diện tích). Trong thời gian qua, việc sản xuất khoai tây, đặc biệt là khoai tây nguyên liệu tại vùng Tây Nguyên, bà con nông dân chưa chú trọng nhiều tới việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống, kỹ thuật canh tác, cơ giới hóa vào sản xuất, nhiều vùng còn canh tác thủ công theo phương pháp truyền thống dẫn tới chi phí về công lao động, về nguyên vật liệu trong sản xuất cao, đặc biệt không tạo được chuỗi giá trị, không liên kết người sản xuất với doanh nghiệp thu mua sản phẩm với giá ổn định. Từ đó doanh thu, hiệu quả từ sản xuất khoai tây thấp. Xây dựng mô hình sản xuất khoai tây nguyên liệu tại xã D’ran, tỉnh Lâm Đồng Nhận thấy tính cấp thiết của việc phải thay đổi phương pháp sản xuất, ứng dụng các tiến bộ trong sản xuất, đặc biệt là sử dụng cơ giới hóa tạo ra chuỗi liên kết, xây dựng được mô hình HTX liên kết với doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhằm nâng cao tối đa hiệu quả trong sản xuất, tạo ra sự ổn định và thu hút người dân tham gia sản xuất khoai tây, đưa cây khoai tây trở lại là cây trồng chủ lực của vùng. Từ đó Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa đề xuất Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho triển khai thực hiện dự án khuyến nông Trung ương “Xây dựng mô hình sản xuất khoai tây nguyên liệu gắn với hệ thống tiêu thụ sản phẩm tại một số tỉnh Tây nguyên” nhằm cải thiện hiệu quả sản xuất khoai tây nguyên liệu và nhân rộng mô hình ra toàn khu vực, cung cấp được nguồn khoai tây nguyên liệu đang rất thiếu hụt cho chế biến và ăn tươi hiện nay. Năm 2025 là năm thứ ba Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa (Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam) triển khai dự án khuyến nông Trung ương “Xây dựng mô hình sản xuất khoai tây nguyên liệu gắn với hệ thống tiêu thụ sản phẩm tại một số tỉnh Tây Nguyên”. Dự án được thực hiện với quy mô 05 ha tại xã Ia Tôr, tỉnh Gia Lai (trước ngày 01/7/2025 là xã Ia Bang, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai), 24 ha tại xã D’ran, tỉnh Lâm Đồng (trước ngày 01/7/2025 là xã Lạc Xuân, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) và 05 ha tại phường Xuân Trường - Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (trước ngày 01/7/2025 là xã Xuân Thọ, TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) với đơn vị phối hợp là Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng. Giống khoai tây được áp dụng trong dự án là các giống phổ biến, phù hợp với điều kiện sinh thái vùng Tây Nguyên. Các giống này phục vụ cho nhu cầu ăn tươi và chế biến. Tại các mô hình, chất lượng giống và vật tư được kiểm soát chặt chẽ. Vật tư có nguồn gốc xuất xứ và thông số kỹ thuật rõ ràng… Các mô hình được thực hiện sản xuất theo quy trình chuẩn, mỗi mô hình có 1 - 2 cán bộ trực tiếp theo dõi. Theo đánh giá, mô hình 05 ha sử dụng giống TK15.80 tại xã Ia Tôr, tỉnh Gia Lai có sự sinh trưởng, phát triển tốt, độ đồng đều cao. Tại thời điểm 50 - 60 ngày, mức độ phủ luống đạt 100%, không xuất hiện các triệu chứng bệnh héo xanh và virus. Bệnh mốc sương chỉ ở mức khoảng 2% tại thời điểm 50 - 60 ngày sau trồng, tuy nhiên sau đó được kiểm soát hoàn toàn. Tại xã D’ran thực hiện trên quy mô 24 ha và 05 ha tại phường Xuân Trường - Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng với giống Atlantic và TK15.80, kết quả cho thấy các giống này sinh trưởng, phát triển tốt, độ đồng đều cao. Tại thời điểm 50 - 60 ngày, mức độ phủ luống đạt 100% và không xuất hiện các triệu chứng bệnh héo xanh, virus trên đồng ruộng, bệnh mốc sương bị nhiễm nhẹ với khoảng 2%. Các mô hình sản xuất khoai tây cho năng suất trung bình trên 22 tấn/ha Ông Nguyễn Thế Nhuận - Chủ nhiệm dự án cho biết: Các mô hình với giống Atlantic và TK15.80 ở Lâm Đồng và Gia Lai do năm 2025 thời tiết biến đổi bất thường, các cơn bão tập trung vào tháng 10 và tháng 11 gây mưa lớn và dài ngày, có những nơi bị ngập úng (như xã D’ran, tỉnh Lâm Đồng) đã ảnh hưởng nhiều tới sinh trưởng và quá trình chăm sóc của các vườn mô hình. Tuy nhiên, với kinh nghiệm sản xuất khoai tây nhiều năm, đơn vị chủ trì đã phối hợp tốt với chính quyền địa phương và các hộ dân, rút kinh nghiệm ngập úng từ những năm trước đã lựa chọn các điểm triển khai ở trên cao và tránh xa khu vực suối xả của đập D’ran. Đồng thời, theo dõi dự báo thời tiết đã phối hợp cho các nông hộ và đơn vị bao tiêu sản phẩm thu hoạch sớm các vườn có nguy cơ ngập úng. Vì vậy, các vườn trong mô hình đều đảm bảo cho thu hoạch, tuy nhiên năng suất năm 2025 giảm nhiều so với năm 2024, chỉ đạt trung bình trên 24 tấn/ha (năm 2024 là trên 26 tấn/ha), các vườn ngoài mô hình đạt 22 tấn/ha, với giá bán được thống nhất với các đơn vị bao tiêu là 11.000 đồng/kg thì mỗi một ha cho doanh thu trên 240 triệu đồng và lợi nhuận đạt trên 120 triệu đồng. Từ kết quả trên, với điều kiện thời tiết bất lợi thì các mô hình khoai tây năm 2025 vẫn cho thu nhập cao hơn so với các đối tượng cây trồng khác cùng thời điểm, góp phần giảm thiệt hại cho bà con nông dân bị ảnh hưởng nặng nề bởi thiên tai”. Thông qua mô hình năm 2025, nhiều hộ ngoài dự án đã liên hệ, tìm hiểu, học hỏi để thực hiện. Đặc biệt, hiệu quả từ các mô hình sẽ góp phần chủ động nguồn khoai tây nguyên liệu cung cấp cho các cơ sở chế biến tại địa phương cũng như các vùng khác trên cả nước, đưa khoai tây trở lại là đối tượng cây trồng chính của vùng và nâng cao thu nhập cho bà con nông dân trên một đơn vị diện tích, giúp các nông hộ sản xuất bền vững và làm giàu trên chính quê hương của mình. Trần Anh Thông - Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa
Tổng số : 87 bài viết
Trang
123456789