Quý I năm 2026, toàn tỉnh Lâm Đồng có khoảng 55.320 ha lúa, sản lượng ước đạt 103.740 tấn. Lúa được sản xuất tập trung tại các vùng trọng điểm của tỉnh gồm các xã: Đức Linh, Hải Ninh, Đồng Kho, Tánh Linh, Nam Thành, Nghị Đức, Liên Hương, Tuy Phong, Bắc Bình, Hồng Thái, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận, Hồng Sơn, Hàm Liêm, Tánh Linh, Đạ Tẻh 2, Tà Năng, Cát Tiên, Đạ Huoai, phường Phước Hội,…
Những năm gần đây, sản xuất lúa theo hướng an toàn và đạt tiêu chuẩn chất lượng ngày càng được chú trọng. Hiện toàn tỉnh có 787,458 ha lúa sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và 54 ha sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ (Organic). Ngoài ra, nhiều diện tích lúa đã áp dụng quy trình tưới ướt khô xen kẽ, quy trình “1 phải 5 giảm”… đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và tiết kiệm nguồn nước trong sản xuất lúa. Hiện nay, nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất lúa nên năng suất và chất lượng lúa tại địa phương luôn đạt cao hơn so với mọi năm. Tuy nhiên, tình hình thế giới và khu vực đang diễn biến phức tạp, khó lường; xung đột địa chính trị tại một số khu vực; biến động giá năng lượng, chi phí logistics và vận tải biển gia tăng, cùng với việc một số quốc gia điều chỉnh chính sách thương mại và dự trữ lương thực có thể tác động đến cung cầu, làm ảnh hưởng đến giá thu mua lúa vụ Đông Xuân 2025-2026 tại địa phương giảm so với cùng kỳ năm 2025.

Bà con nông dân làm đất chuẩn bị xuống giống cho vụ Hè Thu năm 2026
Tuy nhiên, theo chỉ đạo sản xuất vụ Hè Thu, vụ Mùa năm 2026 trên địa bàn tỉnh của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng tại Công văn số 4397/SNNMT-TTBVTV ngày 14/4/2026; hầu hết UBND các xã, phường, đặc khu đã có kế hoạch bố trí lịch thời vụ cụ thể cho vụ Hè Thu năm 2026 và kết thúc gieo trồng trước ngày 30/6. Vì vậy, bà con nông dân chuyên sản xuất lúa tại các xã đã và đang tập trung gieo sạ theo đúng lịch thời vụ đã khuyến cáo.

Ruộng lúa gieo sạ theo phương pháp sạ cụm

Ruộng lúa gieo sạ theo phương pháp sạ lan
Theo dự báo từ cơ quan khí tượng thủy văn, năm 2026 nguy cơ thời tiết cực đoan sẽ gia tăng. Nắng nóng diện rộng có xu hướng xuất hiện sớm, khô hạn kéo dài cùng nhiệt độ cao và độ ẩm thấp và tình trạng này dự kiến ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của tất cả các cây trồng trên toàn tỉnh. Nhằm chủ động ứng phó, giảm thiểu tối đa thiệt hại do nắng nóng, hạn hán và đảm bảo năng suất bội thu của cây lúa sản xuất vụ Hè Thu năm 2026; bà con nông dân cần đặc biệt chú ý các khâu kỹ thuật chăm sóc sau:
* Phân bón và cách bón phân
Tùy thuộc vào đặc điểm từng loại đất, mùa vụ và từng loại giống khác nhau mà thay đổi lượng phân bón cho phù hợp. Kỹ thuật bón phân có thể dựa vào bảng so màu lá lúa.
Lượng phân bón (tính cho 01 ha): Phân chuồng hoai: 5 - 10 tấn; phân hữu cơ vi sinh: 2.000 kg, Vôi bột: 300 - 500 kg. Phân hóa học (lượng nguyên chất): 90 kg N - 70kg P2O5 - 70 kg K2O tương đương: 195 kg Ure + 437 kg Super lân + 116 kg KCl hoặc 350 kg NPK (20-20-15) + 43 kg Urê + 29 kg KCL.
Cách bón: Bón theo nhu cầu của cây vào các thời điểm xung yếu (mạ, đẻ nhánh, tượng đòng), bón đúng liều lượng, không bón thừa phân đạm.
Nguyên tắc bón đạm: Nặng đầu nhẹ cuối, có gia giảm theo thực trạng cây lúa.
Nguyên tắc bón lân: Bón sớm, tập trung bón lót, bón thúc đợt 1, đợt 2.
Nguyên tắc bón kali: Tập trung cho đợt đón đòng, bổ sung cho đợt 1 (nếu cần).
* Quản lý nước
Những vùng chưa có hệ thống kênh mương tưới tiêu chủ động thì cần áp dụng siết nước phơi ruộng giữa vụ như sau: Giai đoạn mạ đến giai đoạn lúa đẻ nhánh, duy trì mực nước 3-5 cm. Giai đoạn lúa cuối đẻ nhánh, cần phơi ruộng 10-15 ngày, khi thấy đất ruộng “nứt chân chim” thì cho nước vào với mực nước 5-7cm để bón đón đòng. Duy trì mực nước này cho đến giai đoạn lúa trỗ chín. Trước thu hoạch 10 ngày cần tháo cạn nước để thuận lợi cho thu hoạch.
Những vùng có hệ thống thủy lợi đã hoàn thiện, chủ động được tưới tiêu thì áp dụng kỹ thuật “Tưới khô - ướt xen kẽ”, cụ thể như sau: Rút cạn nước trước khi gieo sạ; sau khi gieo sạ 1-2 ngày phun thuốc cỏ tiền nảy mầm; sau sạ 3-4 ngày cho nước vào láng mặt ruộng với mực nước 1-3 cm. Giữ nước liên tục theo sự sinh trưởng của cây cho đến lúc bón phân thúc đẻ (cây 4-5 lá). Sau khi bón phân thúc lần 2 cho đến giai đoạn lúa làm đòng tiến hành tưới khô - ướt xen kẽ. Khi mực nước trong ống đo xuống thấp hơn mặt ruộng 10-15cm thì tưới với mực nước trên mặt ruộng ≤ 5cm. Giai đoạn trước khi lúa trỗ khoảng 7-10 ngày đến lúc lúa chín sữa, khi ruộng vừa cạn nước thì tưới lại. Trước khi thu hoạch khoảng 10 ngày tháo cạn nước để thuận lợi cho thu hoạch.
Lưu ý: Trên đất chua, nhiễm phèn, nhiễm mặn cần lưu ý là khi mực nước trong ống đo xuống thấp hơn mặt ruộng 5-7 cm trong vòng 2-3 ngày thì cho nước vào với mực nước ≤ 5 cm là được. Giai đoạn lúa làm đòng nên tháo nước chua, phèn, mặn 1-2 lần để bộ rễ không bị ngộ độc.
* Quản lý cỏ dại
Cần áp dụng tổng hợp các biện pháp như: Cày lật đất sớm sau thu hoạch, san phẳng ruộng, làm đất kỹ, phân hữu cơ phải được ủ hoai mục; gieo cấy với mật độ hợp lý; điều tiết nước hợp lý để hạn chế hạt cỏ nảy mầm; cắt bỏ sớm các bông cỏ trước khi kết hạt; luân canh lúa với cây trồng cạn...
Khi cần sử dụng thuốc diệt cỏ phải theo đúng hướng dẫn trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng trừ cỏ dại/lúa. Với lúa gieo sạ, nên sử dụng các loại thuốc trừ cỏ dại tiền nảy mầm, phun sau khi gieo sạ 1 - 2 ngày; khi sử dụng yêu cầu mặt ruộng phải cạn nước như thuốc Pretilachlor (Sofit 300EC, Map-Famix 30EC,…), Oxadiazon (Ronstar 25EC)…
* Phòng trừ sâu bệnh: Đối với phòng trừ sâu bệnh hại lúa, cần ưu tiên thực hiện các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp.
Biện pháp canh tác: Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng sau mỗi vụ gieo trồng có thể diệt được nhiều sâu non và nhộng sâu đục thân lúa sống trong rạ và gốc rạ; đồng thời làm mất nơi trú ngụ và nguồn thức ăn của rầy nâu... là những môi giới truyền các bệnh siêu vi trùng nguy hiểm cho lúa như bệnh vàng lụi, bệnh lúa lùn xoăn lá và bệnh lại mạ.
Biện pháp thủ công: Bẫy đèn bắt bướm, ngắt ổ trứng, dùng rào chà tướp lá phun sâu cuốn lá, đào hang bắt chuột…
Biện pháp sinh học: Tạo môi trường thuận lợi cho các loại sinh vật có ích là kẻ thù tự nhiên của dịch hại phát triển nhằm góp phần tiêu diệt dịch hại, ưu tiên sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật sinh học.
Biện pháp hóa học: Đây là biện pháp cuối cùng, khi áp dụng đồng thời các biện pháp trên không hiệu quả. Chỉ áp dụng khi mật số dịch hại đạt “Ngưỡng hành động” và nên sử dụng thuốc BVTV một cách có trách nhiệm.
Nguyễn Thị Kim Dung - Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng