Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, năm 2025, tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 10 triệu tấn, tăng 3% so với năm 2024, vượt kế hoạch đề ra với kim ngạch xuất khẩu đạt 11,3 tỷ USD. Trong đó, ngành nuôi trồng thủy sản khẳng định vai trò trụ cột với sản lượng đạt khoảng 6,1 triệu tấn, tăng 5,1% so với năm 2024 (5,81 triệu tấn). Tôm và cá tra là mặt hàng chủ lực, trong đó xuất khẩu tôm ghi nhận mốc kỷ lục lịch sử đạt 4,6 tỷ USD, tăng 19% so với năm 2024; riêng tôm thẻ chân trắng chiếm khoảng 60% tổng giá trị xuất khẩu. Để đóng góp vào thành công trên, ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam thời gian qua đã áp có nhiều bước đột phá mạnh mẽ nhờ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số và phát triển bền vững. Nổi bật là việc chuyển đổi sang mô hình nuôi thâm canh, siêu thâm canh; áp dụng công nghệ tuần hoàn nước (RAS); mở rộng quy hoạch nuôi biển xa bờ ứng dụng vật liệu mới; đồng thời tăng cường ứng dụng, công nghệ di truyền và cải tiến giống nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phảm và bảo vệ môi trường.
Công nghệ nuôi thâm canh và siêu thâm canh: Nuôi thâm canh và siêu thâm canh là hai phương thức nuôi trồng thủy sản hiện đại, tập trung vào việc tối ưu hóa năng suất trên cùng một đơn vị diện tích bằng cách đầu tư mạnh vào công nghệ và quản lý. Đặc biệt được áp dụng rộng rãi đối với các đối tượng thủy sản chủ lực như tôm thẻ chân trắng, tôm sú, cá rô phi và một số loài cá đặc sản. Công nghệ nuôi thâm canh/siêu thâm canh cho phép kiểm soát chặt chẽ môi trường nước, mật độ nuôi và dịch bệnh, giúp tăng năng suất vượt trội trên cùng một diện tích.

Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh dao động từ 200 - 500 con/m2, thậm chí có thể lên tới 1.000 - 1.200 con/m2 - Ảnh nguồn internet
Công nghệ tuần hoàn (RAS) và nuôi công nghệ cao: Công nghệ tuần hoàn (RAS) là “trái tim” của các mô hình nuôi thủy sản công nghệ cao hiện nay. Thay vì xả thải ra môi trường, nước được làm sạch và tái sử dụng liên tục trong một hệ thống kín. Sử dụng công nghệ tuần hoàn nước (RAS), công nghệ Biofloc và các hệ thống lọc tiên tiến giúp tiết kiệm nước, giảm ô nhiễm môi trường và quản lý an toàn dịch bệnh tốt hơn.

Nuôi cá tầm áp dụng công nghệ tuần hoàn (RAS) tại tỉnh Lạng Sơn - Ảnh nguồn internet
Phát triển nuôi biển xa bờ ứng dụng vật liệu mới: Trước những thách thức vì các lồng bè gỗ truyền thống dễ hư hại do thiên tai, tình trạng quá tải diện tích nuôi và ô nhiễm môi trường tại các vùng ven bờ được xem là giải pháp then chốt nhằm bảo vệ môi trường biển và nâng cao giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Đây cũng là bước đột phá trong quá trình chuyển đổi từ khai thác sang nuôi trồng thủy sản. Việc đầu tư vào các lồng nuôi chịu lực (HDPE) quy mô lớn là giải pháp nổi bật để nuôi các loài thủy sản với sản lượng lớn, có giá trị kinh tế cao tại các vùng biển xa theo hướng bền vững hơn.

Nuôi cá biển bằng lồng tròn HDPE tại tỉnh Khánh Hòa - Ảnh nguồn internet
Chuyển đổi số và AI: Chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành “đòn bẩy” thay đổi toàn bộ diện mạo ngành thủy sản Việt Nam, chuyển từ kinh nghiệm truyền thống sang quản lý dựa trên dữ liệu chính xác. Sử dụng các thiết bị IoT (Internet of Things), cảm biến tự động theo dõi chất lượng nước, cho ăn tự động bằng trí tuệ nhân tạo (AI), giúp giảm chi phí lao động và tối ưu hóa quy trình sản xuất.

Nuôi tôm ứng dụng công nghệ IoT và AI tại thành phố Huế - Ảnh nguồn internet
Công nghệ di truyền và giống: Là nền tảng để tạo ra các dòng giống có tốc độ tăng trưởng nhanh, kháng bệnh tốt và thích nghi với biến đổi khí hậu như chịu mặn, chịu nhiệt; đảm bảo an toàn sinh học (SPF) và truy xuất nguồn gốc (hồ sơ di truyền) giúp tối ưu hóa được chi phí sản xuất như nâng cao tỷ lệ sống, nâng cao chất lượng thương phẩm, giảm thời gian nuôi, giảm hệ số thức ăn (FCR) từ đó mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người nuôi.

Giống tôm thẻ chân trắng CPF Turbo G20 đạt trọng lượng kỷ lục 10,9 con/kg - Ảnh nguồn internet

Năm 2025 - Việt Nam là nước đầu tiên trên thế giới sản xuất thành công giống cá cam - Ảnh nguồn internet
Đối với ngành nuôi trồng thủy sản, những đột phá này đã góp phần phá bỏ rào cản mùa vụ và địa lý; thúc đẩy chuyển dịch từ phương thức “sản xuất truyền thống” sang “công nghiệp chính xác”; đồng thời nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường hướng tới phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các tiến bộ này còn giúp tối ưu hóa lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế khắt khe, qua đó từng bước xây dựng ngành thủy sản theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững./.
Vũ Thanh Cao (t/h) - Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng