Trong giai đoạn 2016-2020, ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lâm Đồng tập trung thực hiện tái cơ cấu ngành theo Quyết định số 2777/QĐ-UBND ngày 24/12/2015 của UBND tỉnh, Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 11/11/2016 của Tỉnh ủy và Quyết định số 756/QĐ-UBND ngày 19/4/2017 của UBND tỉnh, hướng đến xây dựng một nền nông nghiệp phát triển toàn diện, bền vững và hiện đại.

Thông qua việc triển khai thực hiện các chương trình, đề án, dự án, ngành Nông nghiệp và PTNT tỉnh Lâm Đồng đã dần chuyển dịch theo hướng phát triển toàn diện, bền vững, hiện đại, thể hiện qua một số thành tựu nổi bật sau đây:

Về tổ chức sản xuất: Các vùng sản xuất chuyên canh tập trung tiếp tục có sự phát triển ổn định trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương. Mỗi vùng đều được hỗ trợ đầu tư và hình thành các mô hình canh tác ứng dụng công nghệ cao, bền vững. Sản xuất trong vùng có sự đầu tư thâm canh cao theo chiều sâu để tăng năng suất và chất lượng nông sản. Bên cạnh đó, một số địa phương trong tỉnh tiếp tục điều chỉnh cơ cấu cây trồng trên phạm vi nhỏ để nâng cao hiệu quả sản xuất. Vùng sản xuất rau, hoa được mở rộng thêm khoảng 7.000 ha trên địa bàn các huyện Lâm Hà, Đức Trọng, Đơn Dương, Lạc Dương và thậm chí một số loại hoa (Lan vũ nữ, Hồng môn, Lan hồ điệp…) đã được phát triển tại các huyện Di Linh, Bảo Lâm và thành phố Bảo Lộc trên các diện tích cà phê, chè, lúa, màu… đang canh tác kém hiệu quả. Diện tích đất trồng cây dâu tằm được mở rộng thêm hơn 4.000 ha trên cơ sở chuyển đổi một phần diện tích cây chè, cà phê già cỗi năng suất thấp, đất lúa kém hiệu quả, đất ven sông suối… tại các huyện Lâm Hà, Đức Trọng, Bảo Lâm, Đạ Tẻh, Cát Tiên và thành phố Bảo Lộc. Diện tích trồng các loại cây ăn quả tăng mạnh thông qua việc thực hiện chủ trương cải tạo vườn tạp và phát triển các mô hình trồng xen cây ăn quả trong vườn cây công nghiệp với nhiều chủng loại giống cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như bơ, sầu riêng, măng cụt… (trong 5 năm qua, diện tích cây ăn quả tăng 6.300 ha, trong đó 80% là trồng xen). Trong chăn nuôi, cơ cấu đàn vật nuôi phát triển tương đối hợp lý, đặc biệt, việc thực hiện đề án bò sữa đã giúp mở rộng vùng chăn nuôi bò sữa ra các huyện Lâm Hà, Di Linh, Bảo Lâm và thành phố Bảo Lộc nhằm khai thác có hiệu quả nguồn thức ăn thô xanh, phụ phẩm trong sản xuất trồng trọt và sử dụng nguồn lao động nhàn rỗi để nâng cao thu nhập. Trong chăn nuôi heo, ngoài các vùng chăn nuôi truyền thống ở Lâm Hà, Đức Trọng, thông qua việc thực hiện tốt các dự án thu hút đầu tư và phát triển kinh tế trang trại, đã hình thành nhiều trại chăn nuôi quy mô lớn tại Đạ Huoai, Đạ Tẻh theo mô hình chăn nuôi gia công cho các doanh nghiệp chế biến thực phẩm; từ đó đã tạo tác động lan tỏa mạnh đến nhiều địa phương khác, thúc đẩy phát triển chăn nuôi trang trại theo định hướng của ngành.

Về chất lượng giống cây trồng: Qua nhiều năm triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất giống (hỗ trợ chứng nhận cây đầu dòng, xây dựng vườn đầu dòng, hướng dẫn quy trình sản xuất giống và công bố tiêu chuẩn cây giống, nâng cao năng lực các cơ sở sản xuất giống), đến nay đã hình thành mạng lưới sản xuất giống cây trồng rộng khắp các địa phương, các vùng sản xuất tập trung của tỉnh; cơ bản đáp ứng yêu cầu chuyển đổi giống, phát triển sản xuất, kể cả các vùng sâu, vùng xa. Cùng với việc tăng cường công tác quản lý, đến nay phần lớn nguồn giống đưa vào sản xuất đều là giống mới, chất lượng cao và đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng theo quy định.

Về trình độ sản xuất: Thông qua việc thực hiện tốt công tác khuyến nông, các dự án ODA, phần lớn nông dân các vùng sản xuất tập trung đều được tập huấn, chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, đặc biệt là quy trình canh tác, nuôi trồng an toàn, bền vững, phòng chống dịch bệnh hiệu quả, nâng cao khả năng tiếp cận với các loại hình máy móc, công nghệ kỹ thuật mới, phù hợp với từng vùng, từng loại cây trồng, vật nuôi. Đồng thời, việc liên kết sản xuất với các doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã góp phần đáng kể trong việc nâng cao nhận thức, trình độ canh tác cho nông dân trên địa bàn. Do đó, trình độ sản xuất của phần lớn nông dân trên địa bàn tỉnh được đánh giá cao hơn so với mức bình quân chung cả nước, đây là yếu tố thuận lợi để triển khai các giải pháp hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp trong thời gian tới.

Về mức độ ứng dụng khoa học công nghệ: Với thuận lợi là tỉnh đi đầu trong phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đến nay đã có trên 20% diện tích canh tác đạt tiêu chí nông nghiệp công nghệ cao với giá trị sản xuất bình quân gấp 2,3 lần mức bình quân chung toàn tỉnh và có hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với sản xuất truyền thống. Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp đã làm chủ được các công nghệ hiện đại như: IoT, thủy canh, khí canh, in vitro, robot, truy xuất nguồn gốc điện tử… đã giúp nâng cao giá trị gia tăng lên nhiều lần so với sản xuất thông thường. Đây chính là nền tảng để ngành nông nghiệp tỉnh nhà khai thác có hiệu quả thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0 để tiếp tục phát triển toàn diện, tiệm cận với các nền nông nghiệp hiện đại trên thế giới.

Về chất lượng nông sản: Từ kết quả của nhiều năm thực hiện công tác chuyển đổi giống, bên cạnh mục tiêu tăng trưởng về năng suất và sản lượng, nông sản của tỉnh giai đoạn vừa qua đã có bước tiến dài về chất lượng. Trong sản xuất rau, hoa, các loại giống thường xuyên được thay đổi, nhập khẩu với mẫu mã, màu sắc, hương vị theo kịp xu hướng của thị trường. Các sản phẩm cây ăn quả, cây công nghiệp cũng luôn có lợi thế về chỉ tiêu, hàm lượng dinh dưỡng so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường, được người tiêu dùng tin tưởng. Đặc biệt, hầu hết nông sản của tỉnh đều đáp ứng các điều kiện an toàn thực phẩm (tỷ lệ mẫu vi phạm qua kiểm tra luôn thấp hơn 0,5%), tỷ lệ sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng quốc gia, quốc tế ngày càng cao.

Công tác bảo quản và chế biến nông sản, phát triển thị trường và xây dựng thương hiệu: Tỷ lệ nông sản qua khâu sơ chế, đóng gói trước khi đưa ra thị trường đạt 75%, tỷ lệ sản phẩm được chế biến đạt 20%. Mô hình kiểm soát toàn diện sản phẩm từ nông trại đến bàn ăn theo xu hướng và yêu cầu của thị trường đang dần được hình thành thông qua giải pháp phát triển liên kết chuỗi. Số lượng chuỗi liên kết và thành viên tham gia liên kết tiếp tục có xu hướng tăng nhanh; chủ trì liên kết là các doanh nghiệp, hợp tác xã tiến hành thu mua, sơ chế và tiêu thụ sản phẩm nên đã phát huy được vai trò đầu mối kết nối giữa sản xuất với thị trường, thực hiện tốt công tác kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm theo yêu cầu của người tiêu dùng, thông qua đó tạo thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước, củng cố niềm tin của người tiêu dùng. Đồng thời, việc xây dựng, phát triển thương hiệu “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành” và Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đã giúp cho nông sản của tỉnh tiếp tục khẳng định được vị trí, sự khác biệt so với các sản phẩm cùng chủng loại trên thị trường.

Về hạ tầng phục vụ sản xuất: Hạ tầng phục vụ sản xuất tiếp tục được quan tâm đầu tư, từ những công trình thủy lợi trọng điểm đến các trạm bơm, hệ thống kênh mương, đường giao thông nội đồng, các công trình nước sạch nông thôn, đặc biệt là các vùng sản xuất tập trung, vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Cơ chế đầu tư công trình được thay đổi mạnh mẽ, từ chỗ hoàn toàn trông chờ vào nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư, đã triển khai đẩy mạnh các giải pháp xã hội hóa, huy động nguồn lực của người dân, doanh nghiệp để phát triển hạ tầng. Đặc biệt là Đề án hỗ trợ phát triển hệ thống ao hồ nhỏ, với suất đầu tư thấp nhưng đã đem lại hiệu quả cao gấp nhiều lần so với đầu tư các công trình lớn, đã đóng góp 7,3% trên tổng diện tích tưới toàn tỉnh (chiếm hơn 50% diện tích tưới tăng thêm trong 5 năm qua).

Định hướng phát triển ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong giai đoạn 2021-2025

Tập trung cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng tiếp cận đa ngành, bền vững, hiện đại, có giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cao. Trong đó, tập trung phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp thông minh và nông nghiệp hữu cơ trong điều kiện biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế. Xây dựng và phát triển các vùng chuyên canh hàng hóa chất lượng cao, quy mô lớn, đạt tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm; kết nối nông nghiệp với công nghiệp chế biến và thị trường xuất khẩu; tổ chức sản xuất với các sản phẩm có lợi thế so sánh, chú trọng phát triển các cây trồng còn dư địa lớn và nhu cầu thị trường cao để tham gia sâu chuỗi giá trị toàn cầu. Tiếp tục thực hiện hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới, gắn với giảm nghèo bền vững. Phát huy vai trò chủ thể của người dân, sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị trong xây dựng nông thôn mới. Nâng cao chất lượng cuộc sống và thu nhập của người dân nông thôn. Xây dựng hình ảnh nông thôn mới có cảnh quan đẹp, môi trường trong lành, bản sắc văn hóa đặc sắc, tình làng nghĩa xóm gắn bó.

Một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu

Ứng dụng khoa học công nghệ và cơ giới hóa trong nông nghiệp: Phát triển các khu, vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao; ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ và cơ giới hóa, tự động hóa vào các khâu của quá trình sản xuất và chế biến, nhằm nâng cao năng suất lao động và nâng cao chất lượng nông sản.

Chuyển đổi, cơ cấu lại sản xuất, nhân rộng mô hình sản xuất có hiệu quả: Xây dựng và phát triển các vùng chuyên canh hàng hóa chất lượng cao, quy mô lớn, đạt tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm; kết nối sản xuất với chế biến và thị trường. Chú trọng phát triển các cây trồng còn dư địa lớn và nhu cầu thị trường cao như cây dược liệu, cây dâu tằm, các loại hoa. Tiếp tục giảm diện tích canh tác kém hiệu quả thông qua chuyển đổi mô hình canh tác, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ.

Nâng cao chất lượng giống cây trồng, vật nuôi: Đầu tư nghiên cứu, sản xuất, nhập nội giống cây trồng để nâng cao chất lượng, đa dạng hóa nguồn giống đáp ứng yêu cầu của sản xuất, tiến tới đáp ứng các yêu cầu về bản quyền giống, đẩy mạnh thị trường xuất khẩu.

Đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và sinh hoạt của người dân nông thôn: Đầu tư các công trình thủy lợi trọng điểm, kiên cố hóa hệ thống kênh mương, xây dựng trạm bơm, đường giao thông nội đồng, hệ thống cấp nước sinh hoạt nông thôn. Đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước tại các vùng sản xuất tập trung nhằm sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đề xuất cơ chế chính sách tháo gỡ khó khăn cho người sản xuất: Thực hiện đồng bộ các cơ chế chính sách hỗ trợ, nguồn lực đầu tư để kịp thời tháo gỡ khó khăn cho sản xuất. Chú trọng công tác khuyến nông, chuyển giao khoa học kỹ thuật, đào tạo nghề cho lao động nông thôn để cập nhật kiến thức, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp hữu cơ; canh tác bền vững, chăn nuôi an toàn dịch bệnh…

Đổi mới quan hệ sản xuất: Đổi mới quan hệ sản xuất thông qua việc thực hiện đồng thời nhiều giải pháp như: Phát triển hợp tác liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; đẩy mạnh thu hút đầu tư và phát triển kinh tế tập thể để hình thành các hạt nhân cho liên kết; khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống; khuyến khích phát triển kinh tế trang trại…

Phát triển thương hiệu, sản phẩm OCOP và xúc tiến thương mại: Khai thác có hiệu quả thương hiệu “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành”; thực hiện tốt Chương trình OCOP để từng bước khẳng định uy tín và nâng cao giá trị thương hiệu nông sản của tỉnh trên thị trường trong và ngoài nước. Tăng cường xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu, kết nối thị trường để khai thác lợi thế cạnh tranh của các nông sản địa phương.

Phát triển sản xuất bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu: Bảo vệ, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho sản xuất đảm bảo tính bền vững thông qua việc khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp hữu cơ; giảm thiểu việc sử dụng hóa chất trong quá trình sản xuất, hạn chế ở mức thấp nhất việc thải chất nguy hại ra môi trường và bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

Nguyễn Minh Trường - TTKN Lâm Đồng

TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG LÂM ĐỒNG

Tầng 4, Khu D, Trung tâm hành chính tỉnh Lâm Đồng - 36 Trần Phú- TP Đà Lạt

ĐT: 02633.812932 - 02633.824180 Fax: 02633.812270 E-mail: ttknld@gmail.com

Top